Dot Quy

Đột quỵ ~ Stroke

Đột quỵ hay Tai Biến Mạch Máu Não (Stroke) — còn được gọi là Não quỵ (Brain Attack) — đã được bàn nhiều trên sách báo, radio, TV, và Internet.
stroke 2 typesA
Trọng tâm của bài viết này chỉ gồm những điểm cơ bản nhất về việc xác định bệnh tình, điều trị và phòng ngừa Chứng “Đột quỵ”.
Đối tượng phục vụ của bài viết này không phải là các vị học giả hay chuyên viên mà là các bạn hiền và thân quyến của người viết. Do đó, các chi tiết và số liệu rườm rà sẽ không đuợc bàn cặn kẽ; người viết hy vọng rằng: chúng sẽ được bổ sung bởi các vị nhân viên (Health Care Provider – HCP) hữu trách.
Vì thuật ngữ bằng tiếng Việt chưa được mọi người đồng lòng thừa nhận, các thuật ngữ và các chữ viết tắt sẽ được ghi chú trong dấu ngoặc đơn, ví dụ (HCP = Health Care Provider).
Mục tiêu của bài viết này chỉ nhầm cung cấp thông tin chung; các trường hợp cá biệt cần được chẩn-trị và tư vấn bởi các nhân viên ý tế (HCP) hữu trách.
stroke 2 types
Định nghĩa Đột quỵ
Tên gọi tuy chưa đồng nhất nhưng Đột quỵ chủ yếu là một tình trạng bệnh lý xảy ra khi một phần não bị tổn thương hoặc hấp hối do tắt nghẽn mạch ở não (Ischemic Stroke – xem hình 1) hoặc do xuất huyết não (Hemorrhagic Stroke – xem hình 2). Tình trạng này không những có thể gây tử vong mà còn có thể gây tổn thương về thể chất lẫn tâm thần cho bệnh nhân lẫn người nuôi bệnh.

Dấu hiệu và Triệu chứng của Đột quỵ
Khi bị Đột quỵ, bệnh nhân có thể đột ngột có những loại Dấu hiệu và Triệu chứng sau đây:
1. mất cảm giác hoặc vận động bất cứ một phần nào của cơ thể — nhất là ở một bên cơ thể như liệt nửa mặt, liệt nửa người, liệt một tay;
2. mắt sụp xuống hoặc không cử động, môi mềm nhủn không giữ được nước bọt, nước dãi chảy ra khỏi miệng;
3. lú lẫn, đơ lưỡi, khó nuốt, khó nói, khó hiểu khi người khác nói với mình;
4. không viết không cầm muỗng (thìa) và đũa được;
5. thấy mắt tối sầm, không còn thấy rõ ngoại vật;
6. đi không vững, chóng mặt quay cuồng, mất thăng bằng, rồi té ngã;
7. lên cơn đau đầu “dữ dội như chưa từng có”.

Chủ yếu, đấy là những thay đổi đột ngột về nhận thức, cảm giác, vận động, và thay đổi đột ngột về tính tình. Và chúng phải được xem như có thể do đột quỵ — chứ không thể đồ đoán như là “trúng gió” hoặc “thượng mã phong”.

Những dấu hiệu và triệu chứng trên có thể xảy ra không lâu hơn 24 giờ, nhưng cũng có thể là những dấu hiệu và triệu chứng của một cơn Thoáng Đột Quỵ (Transient Ischemic Attack —TIA). Thoáng Đột Quỵ (TIA) báo trước một cơn Đột Quỵ chính nên chúng cũng cần được lưu ý và chữa trị đúng mức.

Muốn chữa trị đúng mức, trước tiên cần xác định xem Tai Biến Mạch Máu Não (Đột Quỵ) do chảy máu trong não vì vỡ mạch hay do thiếu máu lên não vì nghẽn mạch. Như vậy thì không thể chỉ cạo gió, thoa dầu “cù là con cọp”, mà phải cho người nghi bị Đột quỵ vào Bệnh Viện càng sớm càng tốt. “Thà nghi lầm hơn lo muộn” phải là phương châm dành cho Đột quỵ. Nhân viên cứu cấp sẽ không trách người bệnh hay thân nhân quá đa nghi về đột quỵ: trái lại, họ thường trách người bệnh không lo cho sớm.

Những điều cần làm ngay khi nghi ngờ đột quỵ
Muốn giúp người bệnh được chẩn đoán xác định, điều trị kịp thời, và phòng ngừa dư chứng, sau đây là những điều cần làm ngay:

1. Gọi Ambulance — 000 tại Úc, 911 tại Mỹ… Các hiện tượng “Đột Ngột” nêu trên phải được xem như biễu hiện của đột quỵ. Xe Cứu thương cần được gọi ngay, và chỉ cần báo có ”stroke”. Nếu người bệnh đã có lần được chẩn đoán và điều trị vì Đột quỵ hay Thoáng Đột quỵ (TIA), thì Ambulance lại càng cần được gọi sớm hơn nữa, vì người bệnh có nhiều nguy cơ hơn.

2. FAST test: Trong khi chờ đợi Xe Cứu thương, quý vị có thể làm cái trắc nghiệm gọi FAST test tức là Face-Arm-Speech-Time Test, như sau:

Face (Mặt): người stroke FASTbệnh có mỉm cười được không? – hay ngược lại môi mềm, mắt sụp
Arm (Cánh tay trong): Cánh tay trong của người bệnh nhấc lên được không? — hay xuội lơ?
Speech (Nói): Người bệnh nói được, và hiểu tiếng gọi không?
Time (Thời gian): Nếu câu trả lời cho ba điều trên là “không”, thì thời gian rất cấp bách. Đột quỵ có thể chuyển biến bất lợi trong vòng 30 phút.

Những điều cần làm sau khi hồi phục
Sau khi được chẩn đoán và điều trị bởi Bệnh Viện, người bệnh cần nhớ những điều sau đây lúc về nhà:
1. Dùng thuốc đã được cấp — dùng đúng liều, đủ thuốc và dùng đều đặn.
2. Ngoài ra còn cần thể dục đều, và theo những chương trình Giảm Căng (Stress) hay Phục hồi chức năng (Rehab) do chỉ định của Bác sĩ.
3. Giảm ký — vì càng béo phì càng dễ bi cao huyết áp, tiểu đường và đột quỵ
4. Kiêng mặn (không quá 2.5 gram mỗi ngày), kiêng mỡ, kiêng đường, bớt muối, chừa rượu và chừa thuốc lá.

Tóm lại, đột quỵ cần được chẩn-trị sớm, và phòng ngừa đúng mức. Chỉ có làm như vậy mới giảm được những nguy cơ của biến chứng và dư chứng như tử vong và tàn phế.

Mách có chứng:
http://www.cdc.gov/stroke/
http://www.nhsdirect.nhs.uk/articles/article.aspx?articleId=351
http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/stroke.html
http://www.stroke.org/site/PageServer?pagename=STROKE
http://www.strokeassociation.org/STROKEORG/WarningSigns/Warning-Signs_UCM_308528_SubHomePage.jsp

Click to access article.pdf

Phó thường dân

Con Tim Cap

Cơn Tim Cấp – Heart Attack

Heart Attack1Chứng “Cơn tim cấp” – còn được gọi là “Heart Attack” (Anh ngữ), “Crise cardiaque” (Pháp ngữ) – đã được bàn nhiều trên sách báo, radio, TV, Internet, v.v…
Trọng tâm của bài viết này chỉ gồm những điểm cơ bản nhất về việc xác định bệnh tình, điều trị và phòng ngừa Chứng “Cơn tim cấp”.
Đối tượng phục vụ của bài viết này không phải là các vị học giả hay chuyên viên mà là các bạn hiền và thân quyến của người viết. Do đó, các chi tiết và số liệu rườm rà sẽ không đuợc bàn cặn kẽ; người viết hy vọng rằng: chúng sẽ được bổ sung bởi các vị nhân viên (Health Care Provider – HCP) hữu trách.
Vì thuật ngữ bằng tiếng Việt chưa được mọi người đồng lòng thừa nhận, các thuật ngữ và các chữ viết tắt sẽ được ghi chú trong dấu ngoặc đơn, ví dụ (HCP = Health Care Provider).
Mục tiêu của bài viết này chỉ nhầm cung cấp thông tin chung; các trường hợp cá biệt cần được chẩn-trị và tư vấn bởi các nhân viên ý tế (HCP) hữu trách.

Định nghĩa Chứng Cơn tim cấp:
Tên gọi tuy chưa đồng nhất nhưng Chứng Cơn tim cấp chủ yếu là một tình trạng bệnh lý xảy ra khi một phần cơ tim bị tổn thương hoặc hấp hối vì không còn được cung cấp máu và dưỡng khí.

Chứng Cơn tim cấp xảy ra khi dòng máu chảy đến một phần của cơ tim bị nghẽn (thường là do một cục máu). Điều này xảy ra vì các động mạch vành cung cấp máu cho tim dần dần trở nên dày và cứng hơn do sự tích tụ của chất béo, cholesterol và các chất khác, gọi là mảng.

Tình trạng này không những có thể gây tử vong mà còn gây tổn thương về thể chất lẫn tâm thần cho bệnh nhân lẫn người nuôi bệnh (Carer).

Dấu hiệu và Triệu chứng của Chứng Cơn tim cấp
Một vài cơn đau tim xảy ra đột ngột và dữ dội, nhưng phần lớn bắt đầu một cách chậm chạp và kèm theo đau hay khó chịu nhẹ. Sau đây là một vài dấu hiệu có thể cho biết một cơn đau tim đang xảy ra.

Khi bị Chứng Cơn tim cấp, bệnh nhân có thể có những loại Dấu hiệu và Triệu chứng sau đây:
1. Áp lực khó chịu, đè nặng, căng đầy hay đau vùng giữa ngực. Áp lực hay cơn đau đó kéo dài trên vài phút hay hết đi và rồi trở lại.

2. Đau hay khó chịu ở một hay ở cả hai cánh tay, lưng, cổ, hàm hay dạ dày.

3. Thở gấp kèm theo hoặc không kèm theo cảm giác khó chịu ở ngực.

4. Các dấu hiệu khác như đổ mồ hôi lạnh, buồn nôn hay váng đầu.

5. Tuy nhiên, không phải mọi người bị cơn tim cấp đều có đau như vậy. Một số người bị cơn tim cấp nhưng chỉ cảm thấy khó chịu hoặc thấy nghẹn thắc ở ngực, ở tay trong, ở cổ, ở hàm hoặc khó thở. Những triệu chứng này có thể làm tưởng lầm không phải do cơn tim cấp.

Những điều cần làm ngay khi nghi ngờ bị Chứng Cơn tim cấp
Muốn giúp người bệnh được chẩn đoán xác định, điều trị kịp thời, và phòng ngừa dư chứng, sau đây là những điều cần làm ngay (ASAP):
1. Nếu quý vị hay một người nào đó đang ở cùng quý vị bị khó chịu nơi ngực, đặc biệt kèm theo một hay nhiều dấu hiệu khác nữa, xin đừng chờ quá năm phút rồi mới gọi để xin giúp đỡ. Quý vị hãy xem như đang bị Chứng cơn tim cấp, gọi ngay Xe Cứu thương, và chỉ cần nói “heart attack” hay đến một bệnh viện ngay lập tức.

2. Uống ngay một viên Aspirin 100mg – nếu không từng bị dị ứng với Aspirin

3. Nếu trước đây đã được Bác sĩ cho dùng các thuốc như Anginine (Glyceryl trinitrate) hoặc Nitrolingual Pumspray, quý vị hãy đem ra dùng ngay. Nếu triệu chứng không giảm, nên dùng tiếp thêm một liều thuốc đó mỗi 5 phút trong lúc chờ xe cứu thương.

Những điều không nên làm khi nghi ngờ bị Chứng Cơn tim cấp
Khi nghi ngờ bị Chứng Cơn tim cấp, có ít nhất là 5 điều cần tránh:
1. Đừng xem như triệu chứng đang có là do một bệnh khác – như khó tiêu.

2. Đừng phí thời gian gọi Bác sĩ gia đình hay Bác sĩ địa phương. Các vị này cũng chỉ sẽ khuyên gọi xe Cứu thương mà thôi.

3. Đừng tự lái xe hoặc gọi Taxi hay nhờ người khác đưa mình đếnh Bệnh viện. Xe Cứu thương có đû phương tiện cấp cứu sẽ chuyển quý vị đến Bệnh Viện một cách an toàn hơn.

4. Đừng chờ tới sáng hôm sau hoặc chờ kỳ hẹn đã có với Bác sĩ gia đình, Bác sĩ Chuyên khoa, hay với Bệnh viện.

5. Đừng ngại, đừng ngượng rằng sau khi đến Bệnh viện, người ta chẩn đoán không phải cơn tim cấp. Nhân viên bệnh viện biết rất rõ tầm quan trọng của việc xác định hay phủ định một cơn tim cấp.

Những điều cần làm sau khi hồi phục từ Chứng Cơn tim cấp:
Sau khi được chẩn đoán và điều trị, người bệnh cần nhớ những điều sau đây lúc về nhà:
1. Bắt đầu thay đổi lối sống từ bây giờ để giảm thiểu nguy cơ quý vị có thể bị một cơn đau tim khác. Hãy ăn uống thật lành mạnh, hoạt động thể chất nhiều hơn và bỏ hút nếu quý vị hút thuốc lá.

2. Nói chuyện với bác sĩ và các y tá của quý vị về cách làm sao để sống một cuộc sống càng bình thường càng tốt. Hãy hỏi xem khi nào thì quý vị có thể làm việc trở lại, lái xe, quan hệ tình dục và phải làm gì nếu quý vị bị khó chịu ở ngực.

3. Tham gia một chương trình phục hồi bệnh tim trong vùng mình đang ở.

Những điều cần làm để phòng ngừa Chứng Cơn tim cấp:
Muốn tránh những biến chứng và dư chứng như tử vong và tàn phế, BA điểm cần lưu ý là:

1. Dùng thuốc đã được cấp – dùng đúng liều, đủ thuốc và dùng đều đặn. Ngoài ra còn cần thể dục đều, và theo những chương trình Giảm Căng (Stress) hay Phục hồi chức năng (Rehab) do chỉ định của Bác sĩ.

2. Giảm ký – vì càng béo phì càng dễ bi cao huyết áp, tiểu đường, đột quỵ và suy tim

3. Kiêng mặn (không quá 2.5 gram mỗi ngày), kiêng mỡ, kiêng đường, bớt muối, chừa rượu và chừa thuốc lá.

Tóm lại, Chứng Cơn tim cấp (Heart Attack) cần được chẩn-trị sớm, phục hoạt và phòng ngừa đúng mức. Chỉ có làm như vậy mới giảm được những nguy cơ của biến chứng và dư chứng như tử vong và tàn phế.

“Mách có chứng” (References):
1. What to do if you have chest pain or discomfort – Professor Con Aroney
Co-Charman, National Heart Foundation of Australia: Medicine Today, May 2007

2. http://www.heart.org/HEARTORG/Conditions/HeartAttack/Heart-Attack_UCM_001092_SubHomePage.jsp

Phó thừng dân

Dai Ra Mau

“Đái ra máu”

Chứng “Đái ra máu” – còn được gọi là “Hematuria” hoặc “Heamaturia” (trong Anh ngữ)  – đã được bàn khá nhiều trên sách báo, radio, TV, Internet, v.v…
Trọng tâm của bài viết này chỉ gồm những điểm cơ bản nhất về việc xác định bệnh tình, điều trị và phòng ngừa Chứng “Đái ra máu”.
Đối tượng phục vụ của bài viết này không phải là các vị học giả hay chuyên viên mà là các bạn hiền và thân quyến của người viết. Do đó, các chi tiết và số liệu rườm rà sẽ không đuợc bàn cặn kẽ; người viết hy vọng rằng: chúng sẽ được bổ sung bởi các vị nhân viên (Health Care Provider – HCP) hữu trách.
Vì thuật ngữ bằng tiếng Việt chưa được mọi người đồng lòng thừa nhận, các thuật ngữ và các chữ viết tắt sẽ được ghi chú trong dấu ngoặc đơn, ví dụ (HCP = Health Care Provider).
Mục tiêu của bài viết này chỉ nhầm cung cấp thông tin chung; các trường hợp cá biệt cần được chẩn-trị và tư vấn bởi các nhân viên ý tế (HCP) hữu trách.

Nhìn thấy nước tiểu của mình (hay của người thân) ửng đỏ hay hồng có thể rất đáng sợ và phải được điều tra bởi các nhân viên ý tế hữu trách. Lý do chính là: “Đái ra máu” chỉ là một một dấu hiệu của một bệnh tình cần tìm cho ra lẽ. Dấu hiệu này được tổ chức Y tế Thế Giới xếp vào loại < R31 Unspecified haematuria >; nếu nhân viên ý tế hữu trách chỉ nêu dấu hiệu này tức là việc định bệnh chưa đi đến đâu cả!
Hematuria1
Nếu bạn nhận thấy máu đỏ tươi trong nước tiểu của bạn, hoặc nếu nước tiểu của bạn đã biến màu đỏ, hồng hoặc nâu nhạt, thì nước tiểu có các tế bào máu đỏ trong ấy, và bạn cần gặp nhân viên ý tế (HCP) hữu trách để xác định bệnh tình càng sớm càng tốt (ASAP).

Đôi khi, nước tiểu có thể chỉ chứa một lượng nhỏ máu nhưng không nhìn thấy (vô hình) với mắt thường và chỉ có thể nhìn thấy ở một phòng thí nghiệm khi xét nghiệm nước tiểu được thực hiện cho một vấn đề gì khác . Điều này vẫn sẽ cần phải được điều tra bởi nhân viên ý tế hữu trách, bởi vì trong nước tiểu ngưởi khỏe mạnh thường không phát hiện máu.

Tên thường cho hiện tượng có máu trong nước tiểu là “đái ra máu”. Nếu có máu trong nước tiểu là rõ ràng bằng mắt thường, nó được gọi là “đái ra máu nhìn thấy được” (“macroscopic”, or “visible hematuria”. Nếu máu trong nước tiểu chỉ có thể được phát hiện bằng xét nghiệm, thì hiện tượng này được gọi là “đái ra máu không nhìn thấy được” (“microscopic”, or “invisible” hematuria).

Máu – trong nước tiểu – có thể đến từ một nơi nào đó trong đường tiểu (tiết niệu – thận [Kidney], bàng quang [Bladder] hoặc ống nước tiểu [Ureter]).
Urinary Systent1
Bài viết ngắn gọn này chỉ nêu những lý do phổ biến nhất có thể gây tình trạng có máu trong nước tiểu để cung cấp cho bạn một ý niệm về những gì có thể gây ra vấn đề “Đái ra máu”. Tuy nhiên, hướng dẫn này không nên được sử dụng để tự chẩn đoán tình trạng của bạn, và điều quan trọng là bạn đi khám nhân viên ý tế (HCP) của bạn để cho được một chẩn đoán về bệnh tình nào đã gây ra vấn đề “Đái ra máu”.

Có chắc chắn là có máu trong nước tiểu không?
Trước tiên cần xem xét liệu bạn có ăn một loại củ cải (beetroot), vì điều này có thể gây màu hồng nước tiểu và gây báo động không cần thiết. Ngoài ra, một số loại thuốc, chẳng hạn như nitrofurantoin, cũng có thể biến nước tiểu màu nâu hoặc đỏ.

Kế đến là xem máu có thực sự là đến từ nước tiểu của bạn và không âm đạo của bạn (nếu bạn là một người phụ nữ) hoặc từ hậu môn.

Nguyên nhân phổ biến của máu trong nước tiểu:
Chúng bao gồm:
1. viêm bàng quang (nhiễm trùng bàng quang), thường gây ra cảm giác đau rát khi đi tiểu.
2. nhiễm trùng thận – bạn cũng có thể có nhiệt độ cao (38 º C hoặc cao hơn) và đau ở phía bên của bụng của bạn
3. bệnh sỏi thận – sỏi thận có thể không gây đau,  nhưng đôi khi sỏi thận có thể bị ngăn chặn một trong những ống từ thận của bạn và gây ra cơn đau bụng khá nặng
4. viêm niệu đạo (tức là ống dẫn nước tiểu ra ngoài cơ thể) – bệnh này được gọi là viêm niệu đạo, và thường được gây ra bởi nhiễm trùng Chlamydia qua đường tình dục
5. lớn tuyến tiền liệt (có người gọi là “nhiếp hộ tuyến” = prostate) – đây là một tình trạng phổ biến ở đàn ông lớn tuổi. Tuyến tiền liệt quá lớn sẽ đè nặng lên “bọng đái” (chữ Hán là “bàng quang”) và gây ra một số vấn đề như tiểu khó và cần phải đi tiểu thường xuyên
6. Ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) – bệnh này thường chỉ thấy ở đàn ông độ tuổi trên 50 và thường tiến triển rất chậm. Ung thư tuyến tiền liệt thường có thể được chữa khỏi nếu được phát hiện và điều trị sớm
7. ung thư bàng quang (bladder cancer) –  bệnh này thường là chỉ có thể là nguyên nhân “đái ra máu” ở những người trên 50 tuổi
8. ung thư thận (kidney cancer) – bệnh này thường xảy ra ở độ tuổi trên 50, thường được phát hiện bằng phương pháp CT scan, và có thể được chữa khỏi nếu phát hiện sớm

Có lẽ Bạn sẽ hỏi: Tôi có cần phải khám chuyên khoa không?
Câu trả lời là nhân viên ý tế (HCP) hữu trách của bạn như Bác sĩ gia đình có nhiệm vụ phải tham khảo gấp một chuyên gia, thường là một Bác sĩ chuyên về đường tiểu (chữ Hán là tiết niệu = Urology trong Anh ngữ), nếu Bạn có thêm những điều sau đây:
(a) bạn nhìn thấy máu trong nước tiểu mà không đau, và xét nghiệm cho thấy không có nhiễm trùng
(b) tuổi bạn là 40 hoặc hơn và tiếp tục bị nhiễm trùng đường tiểu và có máu trong nước tiểu
(c) tuổi đời của bạn là 50 hoặc hơn và xét nghiệm nước tiểu có máu nhưng lại không giải thích được rõ ràng
(d) bạn có một khối u trong bụng đã được tìm thấy trong một quá khứ, hoặc thông qua một CT scan mới làm
(e) “đái ra máu vô hình” có người gọi theo tiếng Hán là “đái ra máu vi thể” (invisible hematuria or microscopic hematuira) – tình trạng này chỉ được thấy khi thử nghiệm nước tiểu, và đặc biệt là nếu đồng thời có chất đạm (protein) trong nước tiểu. Trường hợp đặc biệt này cần được khám nghiệm bởi một Bác sĩ Chuyên khoa về Thận  (Nephrologist) chứ không phải là một Bác sĩ tiết niệu (Urologist).

Mách có chứng:
R31 Unspecified haematuria
http://apps.who.int/classifications/icd10/browse/2010/en#/R31

http://www.nhs.uk/conditions/blood-in-urine/Pages/Introduction.aspx

PTD (Phó Thường Dân)

Viem Ruot Thua

Viêm ruột thừa

appendicitisChứng “Viêm ruột thừa” – còn được gọi là “Appendicitis” (“inflamed appendix” trong Anh ngữ – xem hình)  – đã được bàn khá nhiều trên sách báo, radio, TV, Internet, v.v…
Trọng tâm của bài viết này chỉ gồm những điếm cơ bản nhất về việc xác định bệnh tình, điều trị và phòng ngừa Chứng “Viêm ruột thừa”.

Đối tượng phục vụ của bài viết này không phải là các vị học giả hay chuyên viên mà là các bạn hiền và thân quyến của người viết. Do đó, các chi tiết và số liệu rườm rà sẽ không đuợc bàn cặn kẽ; người viết hy vọng rằng: chúng sẽ được bổ sung bởi các vị chuyên viên hữu trách liên hệ.
Vì thuật ngữ bằng tiếng Việt chưa được mọi người đồng lòng thừa nhận, các thuật ngữ và các chữ viết tắt sẽ được ghi chú trong dấu ngoặc đơn (…).

Mục tiêu của bài viết này chỉ nhầm cung cấp thông tin chung; các trường hợp cá biệt cần được chẩn-trị và tư vấn bởi các nhân viên ý tế hữu trách.

Ruột thừa là một phần của cơ thể người ta, giống như một ống nhỏ gắn liền với phần đầu tiên của ruột già. Ruột thừa nằm ở phần dưới bên phải của bụng. Chức năng của Ruột thừa chưa được biết đến rõ ràng.
Một sự tắc nghẽn bên trong của ruột thừa gây viêm ruột thừa.
Tắc nghẽn dẫn đến:
(a) tăng áp lực trong ruột thừa,
(b) rối loạn về cung cấp máu cho ruột thừa, và
(c) viêm nhiễm tại ruột thừa.

Nếu sự tắc nghẽn không được điều trị, ruột thừa có thể vỡ tung và lây nhiễm trùng vào bụng. Việc này gây ra một tình trạng gọi là viêm màng bụng (viêm phúc mạc – peritonitis).

Các triệu chứng chính là đau bụng – thường đau phía bên phải. Cơn đau thường là bất ngờ và trở nên tệ hơn theo thời gian. Các triệu chứng khác có thể bao gồm:
1. Sưng ở vùng bụng
2. Mất cảm giác ngon miệng
3. Buồn nôn hoặc nôn thật sự
4. Táo bón hoặc tiêu chảy
5. Không có khả năng để xì hơi – đánh rấm
6. Sốt nhẹ

Không phải ai bị viêm ruột thừa cũng có tất cả những triệu chứng này.

Viêm ruột thừa là một cấp cứu y tế.
Ai cũng có thể bị viêm ruột thừa, nhưng viêm ruột thừa phổ biến hơn ở những người 10 và 30 tuổi.
Điều trị viêm ruột thừa hầu như luôn luôn liên quan đến việc loại bỏ cái ruột thừa bị viêm nhiễm.

Nguồn đáng tin: http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/appendicitis.html

Phó thường dân

Một cách chọn…

Một cách chọn nơi cung cấp dịch vụ Y Khoa (*HCP)

Chữ viết tắt HCP dùng trong bài này có nghĩa là: Health Care Providers. HCP gồm nơi cung cấp dịch vụ Y Khoa như Bác sĩ Gia đình, Bác sĩ Chuyên Khoa, Trung Tâm Y khoa…)

Đối với một số người biết lo xa — khi còn khỏe mạnh và còn có đủ thời gian để chọn lựa — thì việc tìm nơi cung cấp dịch vụ Y Khoa (Health Care Providers – HCP gồm Bác sĩ Gia đình, Trung Tâm Y khoa) cho bản thân hay gia đình mình là một trong những quan tâm hàng đầu.
Có người thích tìm và chọn HCP theo những gợi ý của bạn bè hoặc người thân, một số người khác tìm và chọn HCP, dựa vào niềm tin (belief), quan điểm (opinion) và cảm nhận (perception) của chính mình.
Một cách lựa chọn HCP sẽ được bàn đến sau đây, dựa trên mô hình của Giáo sư Avedis Donabedian: Cấu trúc-Tiến trình-Thành quả [Structure-Process-Outcome (SPO)].

Tìm chọn lựa một HCP theo bạn bè khuyên bảo có thể chủ quan, thiên vị vì yếu tố “placebo effect” (tức là hiệu quả ảo) lắm khi được suy diễn vội vàng. Còn chọn lựa theo cảm quan của chính mình thì tự nó đã là chủ quan rồi, chưa kể đến ảnh hưởng của hào quang, mà các nhà tâm lý học gọi là “halo effect”. Do cái “halo effect” này, những hào quang bên ngoài như phô trương bằng cấp, phòng mạch lớn, xe nhà “xịn” (đời mới), v.v… thường tăng gía trị đích thực của một HCP. “Placebo effect” và “Halo effect” là hai yếu tố gây thiên lệch (Bias) trong việc nhận định về một HCP.
Theo mô hình của Giáo sư Avedis Donabedian, ba yếu tố khách quan như Cấu trúc, Tiến trình và Thành quả có thể xem là tiêu chuẩn căn bản để đánh giá và lựa chọn một HCP, trước khi giao phó sức khỏe của thân nhân hay của chính mình cho một HCP nào đó.

Cũng theo mô hình của Giáo sư Avedis Donabedian, nói đến Cấu trúc của một HCP, người ta không chỉ nghĩ đến bảng hiệu hấp dẫn, cơ sở vật chất hoành tráng, nhà cửa nguy nga hay phòng ốc đồ sộ, mà còn cần chú ý đến một số điểm thiết thực và quan trọng hơn trong việc phòng và trị bệnh.

Điểm thiết thực và quan trọng đầu tiên – tất nhiên không phải là “tiền đâu” mà là cơ cấu nhân sự của một HCP. Về cơ cấu nhân sự, nhân viên của HCP không những cần cập nhật kiến thức và kỹ năng y khoa mà còn cần có thái độ tận tình phục vụ người bệnh. “Khoa học mà không lương tâm thì chỉ là sự băng hoại của tâm hồn.” “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme.” Văn hào Pháp Rabelais đã từng nêu lên như vậy rồi.

Thêm vào thái độ tận tình phục vụ của nhân viên tại HCP, các dịch vụ chẩn đoán, điều trị, điều dưởng, dinh dưởng và phục hoạt còn phải chu đáo. Và tất nhiên, phòng ốc cần thoáng, sạch, và hợp vệ sinh; trang bị y khoa không những hiện đại mà còn được bảo trì thỏa đáng.

Ngoài ra, hồ sơ bệnh lý cũng cần được thiết lập, lưu trử, cập nhật và sẵn sàng khi cần sử dụng.

Hơn nửa, các dịch vụ y khoa (hay phục hoạt và giải trí) khác cũng phải đầy đủ để đáp ứng nhiều tình huống và nhu cầu của bệnh nhân.

Nhầm đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân muốn tránh di chuyển hay chờ đợi, các phuơng tiện Xét nghiệm bệnh lý (thử máu, nước tiểu…), X-quang, Siêu âm, Điện tâm đồ (ECG) và Nội soi (Endoscopy) cần được nhanh chóng và dễ dàng thực hiện ngay trong các phòng ốc kế cận của một HCP lý tưởng.

Đạt được các tiêu chuẩn về cấu trúc như trên mới thật sự cần thiết; cơ sở vật chất dù có hoành tráng cũng chỉ là “màu mè” phô trương.

Đạt các tiêu chuẩn về cấu trúc như đã nêu trên tuy cần, nhưng chưa đủ cho một HCP lý tưởng. HCP lý tưởng cần được đánh giá qua Tiến trình của các dịch vụ y khoa, tức là quan tâm đến từng bước trong cách phục vụ của thầy thuốc và nhân viên chuyên môn y khoa.

Tại một cơ sở y tế lý tưởng, các vị chuyên viên y khoa không thể lơ là trong việc thảo luận với bệnh nhân hoặc thân quyến về một số vấn đề quan trọng như:
các triệu chứng chủ quan (Subjective) mà người bệnh lo lắng;
các tiền sử (History) cá nhân và bệnh sử trong gia đình của người bệnh;
các dấu hiệu lâm sàng khách quan (Objective) phát hiện được;
các xét nghiệm (Workup) đã và sẽ cần làm để xác định bệnh.

Nói ngắn gọn là: nhưng gì đã SHOW (Subjective, History, Objective, Workup) qua việc thăm khám cần được chú ý và thảo luận với người bệnh hoặc thân nhân của họ.

Riêng về xét nghiệm (Workup), thì xét nghiệm sẽ chỉ thực hiện vì lợi ích của chính người bệnh, chứ không thể vì lợi nhuận cho HCP. HCP sẽ không làm quá nhiều hay quá ít các xét nghiệm; không đánh giá quá cao hay quá thấp các kết quả xét nghiệm; đây cũng là một điểm quan trọng không thể bỏ qua.

Trước và sau khi xét nghiệm, các chẫn đoán (xác định, dự đoán hay phân biệt) cũng phải được thẳng thắn bàn với bệnh nhân hay thân quyến. Các phương hướng điều trị và tiên lượng bệnh cũng cần được giải thích cho bệnh nhân và thân quyến. Các biện pháp phòng ngừa bệnh cho cá nhân, gia đình và xã hội phải được đề cập trước khi xuất viện. Để tiện nhớ là: DEMO cần được chuyên viên trao đổi và thảo luận với người bệnh. DEMO ở đây không phải là phô trương (Show off) mà có nghĩa là Diagnosis (Chẩn đoán bệnh), Evaluation (Đánh giá bệnh tình nặng nhẹ), Management (Xử lý bệnh), Ongoing Plan (Kế hoạnh Theo rõi bệnh tình về lâu dài).

Các yêu cầu về tiến trình phục vụ như vừa nêu tuy có vẻ cao nhưng vẫn có thể đạt ở một số HCP.

Chỉ nhìn cấu trúc và tiến trình thôi và không nhìn thành quả của HCP sẽ là một thiếu sót. Thiếu sót là vì: Việc tìm hiểu thành quả mà nhân viên và cơ sở điểu trị đã đạt sẽ giúp việc chọn lựa thêm phần đáng tin.

Các kết quả quan trọng đáng chú ý đối với một HCP là tỷ lệ tử vong, bệnh xuất và mức vừa lòng của thân chủ.

Thông thường thì: Các thành quả tích cực về săn sóc và điều trị có thể dễ thấy từ thông tin, quảng cáo của chính nơi cung cấp dịch vụ hoặc từ đồn đoán (‘mách miệng’).

Trái lại, các kết quả tiêu cực thường khó tìm hơn, nhất là về các biến chứng, sơ sót, và thiếu sót trong quá trình phục vụ tại nơi mình chọn. Những nguồn tin tiêu cực (chủ quan hoặc khách quan) có thể tìm thấy từ những thân chủ cũ.

Tuy nhiên, suy cho cùng thì cái khó vẫn là việc đánh giá nguồn tin tìm đuợc, để sáng suốt quyết định và chọn lựa.

Một số điều dễ thấy hơn là:
Nhân viên y tế dù giỏi, dịch vụ dù hay, nhưng khi cần thì không có, khi có lại giá cao, tất nhiên sẽ gây trở ngại không nhỏ cho việc phục vụ. Một cơ sở y tế nằm tận lầu thứ ba mà không có thang máy, y phí lại quá cao, và không mở cửa sau giờ (chỉ mở cửa từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều) hiển nhiên không thể là một nơi lý tưởng cho mọi người bệnh.
Cho những điều vừa nêu, một thước đo có thể là hệ thống “4A”. Đó là: Appropriate, Accessible, Affordable và Available 24/7 trong tiếng Anh.
Điểm trước tiên của “4A” là: thành quả phải thỏa đáng (Appropriate) đối với nhu cầu của bệnh nhân và trình độ y học. Kế đến, các tiện ích (facilities) của HCP phải thật sự thuận tiện (Accessible) cho người bị bệnh hoạn hay mang tật nguyền; y phí cần vừa phải (Affordable) đối với đa số bệnh nhân. Và quan trọng hơn cả, HCP phải sẵn sàng 24/7 (Available) để phục vụ.
Có người sẽ bảo rằng: “chớ đem thành bại mà luận anh hùng”, và chớ đem thành quả mà đánh giá một HCP. Tuy nhiên, việc dùng “4A” (như vừa nêu) để đo lường thành quả của HCP tưởng cũng không hẳn là việc làm quá đáng.

Tóm lại, ba phương diện Cấu trúc, Tiến trình, và Thành quả là ba tiêu chuẩn quan trọng. Ba tiêu chuẩn này có thể dùng làm thước đo một cách có hệ thống, khi tìm và chọn nơi cung cấp dịch vụ Y Khoa (HCP) cho bản thân hay gia đình.

Nguyễn Nguyên