FAQ về “Mệt”

FAQ về “Mệt”
SALEM_cigCái gì làm tôi mệt?
SALEM và Sao Anh Làm Em Mệt?
Tôi phải làm gì khi mệt?

Mệt là gì?
Mệt là một cảm giác chủ quan, hay một triệu chứng, mà người bệnh có thể nêu lên khi đi tìm thầy chạy thuốc. Trong khuôn khổ của bài này, triệu chứng “mệt” sẽ được định nghĩa đặc biệt hơn trong ngữ cảnh y khoa, một số điểm then chốt sẽ được nêu, một số cách xử lý của nhân viên y tế sẽ được bàn, với mong muốn phục vụ người bệnh biết thêm về những gì đáng chờ mong từ nhân viên y tế.
Trước tiên là một trong nhiều định nghĩa về triệu chứng mệt. Định nghĩa của cảm giác chủ quan về “mệt” thay đổi theo từng người. Đối với một số nhân viên y tế, triệu chứng mệt là một cảm giác chủ quan mà người bệnh mô tả khi họ nhận thấy một phần hoặc toàn thân thể bải hoải, rũ rượi – “mềm xìu như bún thiu”; cảm giác này kéo dài khá lâu sau khi người bệnh đã nghỉ ngơi.
Trong một dạng đặc biệt mang tên Hội chứng Mệt Mạn tính (Chronic Fatigue Syndrome = CFS), triệu chứng “mệt” có thể kéo dài 6 tháng hoặc lâu hơn. Người bị Hội chứng Mệt Kinh Niên (CFS), ngoài cảm giác “mệt” kinh niên, còn có thể có một số dấu hiệu hoặc triệu chứng khác như: hạch bạch huyết bị đau nhức, nhức đầu, đau bắp thịt, đau khớp xương, giảm trí nhớ…
Và tất nhiên đây không phải cái cảm giác “mệt mà sướng” và ngắn hạn của từ ngữ “mệt” trong cụm từ nêu khi bông đùa “Sao Anh Làm Em Mệt, Mà Em Làm Anh Sướng” nhại theo tên gói thuốc SALEM ngày xưa.
Điểm đáng chú ý là: Trong “ngữ cảnh” (context) của y khoa, “mệt” chỉ là một triệu chứng chứ không là cái tên của một bệnh hay tên của một hội chứng.

Triệu chứng “mệt” này khá phổ biến. Theo một nghiên cứu tại Úc, cứ năm người đi khám bệnh thì đã có một người nêu chứng “mệt” kèm theo các triệu chứng khác; và xấp xỉ 2 phần 3 những người than mệt là người nữ. Tuổi trung bình của những người than mệt là 44 tuổi; và người trên 60 thường khám Bác sĩ vì “mệt” nhiều hơn người trẻ.

Các yếu tố hoặc bệnh tình nào có thể liên quan đến triệu chứng “mệt”?
Có nhiều yếu tố hoặc bệnh tình nặng nhẹ khác nhau có liên hệ đến cái gọi là “mệt”. Các yếu tố hoặc bệnh tình này thường thuộc 5 nhóm chính như: thể chất, tâm lý, xã hội, nếp sống, và cảm nhận của chính người đang có triệu chứng “mệt”.
Về mặt thể chất, một số yếu tố cần nêu là: tuổi tác và phái tính, bệnh nhiễm trùng, bệnh thiếu máu, bệnh nội tiết, bệnh tim mạch, bệnh phổi, bệnh ung thư, nhưng đừng quên xét đến chính các thuốc mà người bệnh đã và đang dùng.
Về mặt tâm lý, triệu chứng “mệt” có thể liên quan đến một số bệnh như Lo âu (Anxiety), Trầm cảm (Depression), bệnh Post-traumatic disorder [Post-traumatic stress disorder (PTSD)], bệnh về giấc ngủ (Sleep disorders).
Về mặt xã hội và gia đình, người ta có thể “mệt” vì quan hệ gia đình, thân quến, và bạn bè. “Mệt” cũng có thể liên quan đến tang gia, đến “stress” tại nơi làm việc, thậm chí liên quan đến tình trạng thất nghiệp của chính người bị “mệt”.
Thêm vào 3 yếu tố vừa nêu, nếp sống hằng ngày của người than “mệt” cũng phần nào ảnh hưởng đến cảm giác “mệt”. Trong bối cảnh này, lý do làm cho mệt có thể là: người bị “mệt” đã uống rượu, nghiện thuốc, mất ngủ, kém ăn, kém dinh dưỡng, làm việc quá nhiều, làm ca đêm, hay ngược lại nghỉ ngơi quá mức.
Yếu tố sau cùng và có khả năng chi phối cả 4 yếu tố trên là sự cảm nhận (perceptions), giải thích (interpretations), và phản ứng (reactions) khác nhau của từng người đối với các yếu tố trên. Chính cái yếu tố sau cùng này còn có thể bị khác biệt vì thiên lệch (bias), thành kiến, huấn luyện, tẩy não, áp lực, động viên, ão giác, trí nhớ, v. v…

Người bị “mệt” cần làm gì?
Vì có nhiều yếu tố và bệnh tình liên quan đến cảm giác “mệt” cho nên người bị “mệt” không thể – và không nên – tự mình chẩn đoán và xử lý triệu chứng “mệt”. Trái lại, người bệnh phải tìm đúng thầy, đúng thuốc, và đúng cách để xử lý chứng “mệt”; nhất là khi chứng này gây bực bội, xáo trộn cho cuộc sống hàng ngày, giảm phẩm chất của cuộc sống của chính mình – có khi của cả người chung quanh.

Người thầy thuốc hoặc nhân viên y tế sẽ xử lý triệu chứng “mệt” như thế nào?
Như đã nêu trên đây, lý do gây triệu chứng “mệt” thường là “đa nguyên”. Vì vậy, việc chẩn đoán và xử lý triệu chứng “mệt” cần được phó thác vào những nhân viên y tế nào đã thật sự có qua các huấn luyện về chẩn đoán và điều trị bệnh. Mặc dù các nhân viên y tế hữu năng và hữu trách có thể không lúc nào cũng mang được phép mầu trong việc xử lý mọi thứ bệnh, nhưng riêng với triệu chứng “mệt”, họ cũng biết tận dụng các bước căn bản về xử lý triệu chứng này. Cụ thể là: Người thầy thuốc, khi làm đúng chức năng của mình, sẽ tiến hành các bước tóm tắc trong mấy cum từ “SHOW DEMO”.
Nhớ đến chữ SHOW, người thầy thuốc sẽ dồn thời gian và công sức để tìm biết thêm:
về (S hay Subjective symptoms) tức là các triệu chứng chủ quan khác, có thể đi kèm với cảm giác “mệt”;
về (H hay History) tức là bệnh sử cá nhân cùng bệnh sử gia đình của người bệnh; các (H hay Hot points – Red flags) tức “điểm nóng”, ví như – trong trường hợp triệu chứng mệt – “mệt” mới phát ở người cao niên; “mệt” kèm theo giảm ký, kèm theo chảy máu, kèm theo khó thở, kèm theo sốt, kèm theo hạch ở hệ bạch huyết…
về (O hay Objective signs) tức là các dấu hiệu khách quan có thể tìm thấy trên người bị “mệt”, như tím tái, sưng chân, bầm da…
về (W hay Workup) tức là làm thêm một số xét nghiệm cần thiết để tìm nguyên nhân, xác định chẩn đoán, và theo rõi bệnh tình, như thử máu, chụp hình siêu âm hay quang tuyến, nội soi…

Qua mấy chữ DEMO, người thầy thuốc sẽ giải thích cho người bệnh biết thêm:
về (D hay Diagnosis) tức là các chẩn đoán tạm thời, chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác, chẩn đoán xác định;
về (E hay Etiology) tức là nguyên nhân, và (E hay Evolution – Stage) tức giai đoạn tiến triển  của bệnh;
về (M hay Management plan) tức là phương án xử lý bệnh;
về (O hay Outlook) tức là tiên lượng bệnh liên hệ – nếu có. Nếu không có chứng bệnh đáng kể nào, thầy thuốc cũng sẽ giúp người bệnh yên tâm hơn dù cho đã cảm thấy mệt, và từ sẽ đó chóng bớt “mệt”.

Các bước căn bản SHOW DEMO này không những giúp thầy thuốc xử lý bệnh tình, theo một phương châm tuy xưa nhưng chưa mất giá: “Guérir quelquefois, Soulager souvent, Consoler toujours.” – Ambroise Paré [to Cure sometimes, to Relieve often, to Comfort always.] Chúng cũng còn cho người bệnh nhận chân  người thầy thuốc nào đã toàn tâm toàn ý, thật sự lo cho người.

Tóm lại,
1. Triệu chứng “mệt” chưa hẳn là một bệnh hay một hội chứng trong ngữ cảnh y khoa hay y học;
2. Triệu chứng “mệt” lắm khi “đa nguyên” và đa dạng;
3. Cách chẩn đoán và xử lý triệu chứng “mệt” cũng có thể làm cho thầy thuốc “mệt” – và người đọc cũng “mệt” theo.
o!o

Phó thường dân

Bệnh do Ebola virus

Bệnh do Ebola virus

ebola_sos

Source: As shown on Pictures

Further Reading: http://www.cdc.gov/vhf/ebola/index.html

Bệnh Ebola Hemorrhagic Fever (Ebola HF) là gì?
Ebola HF, còn được gọi là “bệnh do Siêu vi Ebola”, là một bệnh hiếm nhưng hiểm nghèo gây ra bởi nhiễm một trong những dòng Siêu vi như vi-rút Ebola (Zaire, Sudan, Bundibugyo, hoặc vi-rút Tai Forest).
Vi-rút Ebola được tìm thấy trong vài quốc gia ở châu Phi. Ebola đã được tìm ra vào năm 1976 gần Ebola River, bây giờ là nước Cộng hoà Dân chủ Congo. Từ đó, khả năng phát bệnh đã xuất hiện không thường xuyên trong vài quốc gia ở châu Phi.

Triệu chứng và dấu hiệu của Ebola HF là gì?
Triệu chứng và dấu hiệu của Ebola HF bao gồm sốt (hơn 38.6°C hoặc 101.5°F ) và nhức đầu dữ dội, đau cơ, ói, tiêu chảy, đau dạ dày, hoặc chảy máu hay thâm tím khó hiểu. Triệu chứng và dấu hiệu có thể xuất hiện khoảng từ 2 tới 21 ngày sau khi tiếp xúc với Ebola HF, thông thường từ 8 đến 10 ngày.

Các xét nghiệm được sử dụng trong chẩn đoán bao gồm:
1. Trong vòng một vài ngày sau khi các triệu chứng bắt đầu:

xét nghiệm miễn dịch (ELISA)
tìm kháng thể IgM ELISA
phản ứng chuỗi polymerase (PCR)
phân lập vi-rut

2. Sau đó trong quá trình bệnh hoặc sau khi phục hồi:

tìm kháng thể IgM và IgG

3. Truy cứu ở những bệnh nhân đã chết:

xét nghiệm miễn dịch
phản ứng chuỗi polymerase (PCR)
phân lập vi-rut

Ebola HF lây lan như thế nào?
Vi-rút Ebola HF được lây lan qua sự đụng chạm trực tiếp (như qua da trầy sước hoặc niêm mạc) với máu hoặc chất dịch từ cơ thể (như nước tiểu, phân, nước bọt, ói, và tinh dịch) của một người mắc bệnh Ebola HF, hoặc với vật thể (như kim) đã bị dơ bẩn vì vi-rút Ebola HF. Ebola HF không được lây lan qua không khí hoặc bằng nước hay, nói chung, bằng thức ăn; tuy nhiên, ở châu Phi, Ebola HF có thể lây lan khi làm thịt bushmeat (thú hoang) và khi đụng chạm với các con dơi đã bị nhiễm bệnh Ebola HF.
Nhân viên Y tế  đã và đang chăm sóc cho bệnh nhân bị bệnh do vi- rút Ebola HF, thân nhân trong gia đình và bạn bè có tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân bị bệnh do vi-rút Ebola HF có nguy cơ cao nhất để mắc bệnh Ebola HF vì họ có thể tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc chất dịch cơ thể của người mắc bệnh Ebola HF.

Tôi có thể bị lây Ebola HF từ một người bị nhiễm Ebola HF nhưng không bị sốt hoặc triệu chứng nào?
Không. Người bị nhiễm Ebola HF không lây cho đến khi có triệu chứng xuất hiện.

Nếu một người sống sót sau khi bị bệnh Ebola HF, người ấy vẫn có thể làm lây lan virút Ebola HF chăng?
Sau khi bình phục từ Ebola HF, họ không còn có thể làm lây lan vi-rút Ebola. Tuy nhiên, vi-rút Ebola HF đã được tìm thấy trong tinh dịch của người bệnh trong vòng 3 tháng. Người vừa khôi phục từ Ebola HF được khuyên kiêng tình dục hoặc dùng bao cao su trong 3 tháng.

Bệnh Ebola HF có thể được lây lan qua con muỗi không?
Không có bằng chứng cho thấy muỗi hoặc côn trùng khác có thể truyền vi-rút Ebola HF. Chỉ các động vật có vú (ví dụ như: người, dơi, khỉ và khỉ giả nhân ) đã cho thấy khả năng lan truyền và bị nhiễm bệnh với vi-rút Ebola HF.

Hiện nay việc điều trị Ebola HF như thế nào?
Hiện nay chưa có vắc – xin hay thuốc hữu hiệu để chữa dứt bệnh Ebola. Triệu chứng và dấu hiệu của Ebola HF thường được xử lý khi chúng xuất hiện. Sự can thiệp rất cơ bản như sau, khi sử dụng sớm, có thể tăng khả năng sống còn của người mắc bệnh Ebola HF.

Cung cấp chất dịch và điện giải
Duy trì dưởng khí và huyết áp
Xử lý với các tình trạngviêm nhiễm khác – nếu có.

Việc phát hiện sớm bệnh Ebola HF là điều quan trọng để chăm sóc thích hợp cho bệnh nhân và ngăn ngừa lan truyền nhiễm trùng. Nhân viên cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nên cảnh giác và đánh giá các trường hợp tình nghi về bệnh Ebola HF.

Ngăn ngừa bệnh Ebola HF
Làm sao tôi giữ cho mình khỏi bị Ebola HF?
Nếu bạn đang ở hoặc đang đến một nơi đang có bùng phát Ebola, bạn có thể tự bảo vệ bằng cách làm những việc sau đây:
Rửa tay thường xuyên.
Tránh tiếp xúc với máu và chất dịch cơ thể của bất kỳ người nào, đặc biệt là người bệnh.
Đừng dùng đụng món đồ có thể đã tiếp xúc với máu của người bệnh hoặc chất dịch cơ thể của họ.
Đừng chạm vào thân người đã chết vì Ebola HF.
Đừng chạm vào dơi và các động vật khác, hay máu và dịch của chúng, và không chạm vào hay ăn thịt sống từ những động vật này.
Tránh xa các Bệnh viện đang có các bệnh nhân bị bệnh do vi rút Ebola đang được chữa trị.
Cần tìm nhân viên Y tế để được chăm sóc sức khỏe ngay lập tức nếu bạn phát sốt (nhiệt độ 101.5 F hay 38.6 C ) và một trong những triệu chứng kèm theo khác như: nhức đầu, đau cơ, tiêu chảy, ói, đau dạ dày, hoặc khó hiểu thâm tím hoặc chảy máu.
Giới hạn người tiếp xúc với người khác cho đến khi bạn đi khám bác sĩ.
Đừng du lịch bất cứ nơi nào khác ngoài phương tiện y tế hiện có trước mắt.
Nếu bạn sắp đi du lịch
Nên đọc thêm các thông báo du lịch và thông tin khác cho khách du lịch, xin vào xem trang web Y tế Ebola: < http://wwwnc.cdc.gov/travel/diseases/ebola > [access 29/08/2014 8:18:21 PM]

Tài liệu để đọc thêm – Further Reading:
< http://www.cdc.gov/vhf/ebola/index.html > [access 29/08/2014 8:18:21 PM]

Phó thường dân

Chứng Rung Tâm Nhĩ

Atrial Fibrillation – Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’
Trọng tâm của bài viết này chỉ gồm những điểm cơ bản nhất về Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’.
Đối tượng phục vụ của bài viết này không phải là các vị “học giả”, “học sĩ”, hay các chuyên viên mà là các bạn hiền và thân quyến của người viết. Do đó, các chi tiết và số liệu rườm rà sẽ không đuợc bàn cặn kẽ; người viết hy vọng rằng: chúng sẽ được bổ sung bởi các vị nhân viên (Health Care Provider – HCP) hữu trách.
Vì thuật ngữ bằng tiếng Việt chưa được mọi người đồng lòng thừa nhận, các thuật ngữ và các chữ viết tắt sẽ được ghi chú trong dấu ngoặc đơn, ví dụ (HCP = Health Care Provider).
Mục tiêu của bài viết này chỉ nhầm cung cấp thông tin chung; các trường hợp cá biệt cần được chẩn-trị và tư vấn bởi các nhân viên ý tế (HCP) hữu trách.

Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’ (Atrial fibrillation) còn được gọi vắn tắt là “AF”, “A-fib” hoặc “atrial fib”. Đây là một chứng bệnh về rối loạn nhịp tim.
Atrial Fibrillation01
Nhịp tim vốn được điều khiển bằng các tín hiệu điện từ trong tim. Nút xoang (sinus node) vốn có sẵn trong tim và Nút xoang có vai trò gửi tín hiệu điện đến mọi nơi ở tim. Các tín hiệu này làm cho tim co bóp và bơm máu.
Bình thường, tim co bóp và thư giãn theo một tốc độ đều đặn.
Trái lại, khi có chứng bệnh Rung Tâm Nhĩ thì nút xoang không khởi động tín hiệu điện. Các tín hiệu đến từ nơi khác trong ‘tâm nhĩ phải’ hoặc ‘tâm nhĩ trái’. Đây là nguyên nhân làm cho tim đập không đều và có lúc rất nhanh.

Dấu hiệu và triệu chứng khi bị Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’ gồm:
• Mạch đập của tim khác thường
• Cảm thấy mạch đập nhanh cực kỳ bên trong lồng ngực gọi là đánh trống ngực. Thở đứt quãng
• Dễ mệt mỏi khi hoạt động
• Cảm thấy như ngất xỉu, chóng mặt, và choáng váng.

Chẩn đóan Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’
Bác sĩ sẽ xem mạch của quý vị và nghe mạch đập không đều của tim bằng ống nghe. Bác sĩ có thể yêu cầu các thử nghiệm như:
• Điện tâm đồ (ECG or EKG)—đo hoạt động điện tim của quý vị

Atrial Fibrillation02
• Kiểm tra Holter (Holter monitoring)—đo nhịp tim của quý vị trong suốt thời gian 24-48 giờ
• Làm một số ‘xét nghiệm’ (workup) khác để tìm bệnh tim.

Việc điều trị Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’ bao gồm:
• Thuốc điều hòa mạch đập và tần số của tim. Quý vị cũng cần dùng thuốc làm loãng máu còn gọi là thuốc chống đông máu để giảm nguy cơ máu đông cục và đột quỵ.
• Khử rung nếu thuốc không giúp được. Đây là ‘máy sốc điện’ dùng năng lượng thấp đặt xuyên qua da đến tim để đổi nhịp tim rối loạn trở lại bình thường. Thường cần thuốc giảm đau trước khi đặt máy.
Người bị Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’ có nguy cơ bị đột quỵ cao hoặc các vấn đề nghiêm trọng về tim nếu Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’ này không được kiềm chế. Điều rất quan trọng là Chứng ‘Rung Tâm Nhĩ’ phải có bác sĩ chăm sóc.
Vì vậy, nên báo ngay cho bác sĩ hoặc y tá biết nếu quý vị có thắc mắc hoặc quan ngại.

“Mách có chứng”:
Developed through a partnership of Mount Carmel Health, Ohio State University Medical Center, and OhioHealth, Columbus, Ohio. Available for use as a public service without copyright restrictions at http://www.healthinfotranslations.org

Phó Thường dân kính cáo