Cộng sản Ba Đình đột biến gene

Cộng sản Ba Đình đột biến gene: Lên án khủng bố, yêu hòa bình!

Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) – Trong thời gian gần đây ban tuyên giáo CSVN khởi động chiến dịch rầm rộ vinh danh hoạt động khủng bố của đặc công Việt cộng trong cuộc chiến tàn phá và cướp trắng miền Nam 1954 -1975. Nào là đánh bom nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bên bờ sông Sài Gòn, gài bom ám sát giao sư Nguyễn Văn Bông, đánh bom khách sạn Caravel, pháo kích trường tiểu học Cai Lậy, gài bom (?) nổ máy bay Mỹ… Nhiều không kể xiết (1).

Nhưng đảng cộng sản trong vài ngày qua vừa có hành động “gene” đột biến nhân có vụ khủng bố đặt bom nổ tại khu đền trong thành phố Bangkok Thái Lan gây chết chóc và thương vong cho hằng trăm người. Người phát ngôn Lê Hải Bình lên tiếng: “Việt Nam lên án vụ đánh bom tại Thái Lan”.

Trong khi cả nước vẫn còn bị đảng cộng sản cai trị độc đoán, tiếng nói của người dân bị ngăn cản, người yêu nước bị khủng bố, sinh mạng bị đe dọa, bị tù đày với những bản án khắc nghiệt và vô nhân đạo thì lời nói “lên án khủng bố” của đảng CSVN chỉ là lời nói đãi bôi!

Việc làm tối thiểu trước mắt để chứng tỏ CSVN thực sự lên án khủng bố, thật sự yêu hòa bình là nhanh chóng trả lại tự do vô điều kiện cho tất cả những tù nhân lương tâm và chính trị đang bị giam cầm vì có quan điểm tự do dân chủ đa nguyên đa đảng, phản đối chế độ toàn trị của đảng CSVN.

Là một đảng có truyền thống dùng bạo lực giết chóc để đạt mục tiêu, dùng khủng bố giết chóc gây hoang mang lo sợ cho chính người dân Việt không chỉ trong thời kỳ có cuộc chiến nhằm nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam mà vẫn còn tiếp tục xảy ra đến hôm nay. Tùy trường hợp, cách thức khủng bố có khác nhưng tựu trung vẫn là sát hại sinh mạng, gây lo sợ và làm nhụt chí người dân vô tội biến họ thành những đàn cừu chỉ biết phục tùng mệnh lệnh. Tại sao đảng CSVN đột nhiên lại lên án khủng bố, yêu hòa bình? Có phải họ bị đột biến gene, hay cũng trò diễn biến yêu chuộng hòa bình, gọi tắt là “diễn biến hòa bình”?
Với phương châm cố hữu của cộng sản là “bạo lực cách mạng” – giết, từng được một đảng viên kỳ cựu và cũng là học trò của Hồ Chí Minh, ủy viên bộ chính trị đảng CSVN Tố Hữu, tóm gọn đầy đủ và xúc tích trong bốn câu thơ:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

Với hành động đột biến “gene” của Việt cộng: “yêu” hòa bình và lên án khủng bố qua vụ đánh bom tại thủ đô Bangkok của Thái Lan vào ngày 17/08/2015, có thể nào người Việt tạm gát câu nói để đời của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về cộng sản (đừng tin những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm) một lần để thử tin “CSVN nay đã yêu hòa bình ghét bạo lực/khủng bố”?

Người dân miền Nam tưởng rằng khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn vì ý thức hệ quốc cộng chấm dứt, những điều hứa hẹn về cuộc sống hòa bình tự do dân chủ, không còn cảnh người bóc lột người, tiến tới một thiên đàng tại hạ giới và người dân có quyền con người sẽ thành hiện thực.

Chiến tranh tuy đã chấm dứt đúng 40 năm nhưng hòa bình và an cư lạc nghiệp như từng được cộng sản tuyên truyền vẫn chỉ là những chiếc bánh vẻ to tướng. Tương tự như những tù nhân sống “hòa bình” trong các nhà tù nhỏ, người dân cả nước đang sống “hòa bình” kiểu đàn cừu trong một nhà tù lớn với tầm cở quốc gia. Tình trạng ngăn sông cấm chợ, tạm trú tạm vắng, nhân khẩu hộ khẩu, tài sản của dân bị đảng cộng sản cướp đoạt công khai, ruộng đất canh tác của người dân bị cán bộ cộng sản ngang nhiên cướp đoạt qua trò tráo trở: sở hữu toàn dân, người dân bị kiểm soát từ đi lại đến ăn uống. Công an “khu vực” kết hợp với các tổ chức ngoại vi của đảng CSVN như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên CS HCM, Hội phụ nữ HCM, Hội cựu bộ đội HCM… canh giữ mọi mặt sinh hoạt tại từng khu nhỏ gồm vài chục gia đình. Người dân sống có khác gì đâu so với tù nhân đang sống “hòa bình” trong các nhà tù nhỏ mọc ra khắp nơi trên khắp cả đất nước với cái tên mỹ mìu “Trại học tập cải tạo”. Thực tế chỉ có thành phần chóp bu đảng CSVN và gia đình dòng họ là những thành phần an cư lạc nghiệp, trong khi đó người dân sống không khác bày cừu phải nghe theo lệnh của những tên tự cho mình là đầy tớ nhưng sống trong các biệt thư nguy nga như cung điện của vua chúa thời xưa. Chính những tờ báo do đảng phát hành để định hướng suy nghỉ của người dân cũng thú nhận người dân sống dưới chế độ cộng sản còn bị bóc lột thậm tê hơn nhiều so với thời kỳ cả nước sống dưới chế độ thực dân Pháp với hàng ngàn loại thuế (6). Tất cả những quyền con người đều bị đảng CSVN tướt đoạt, ngăn cấm và đàn áp với thứ luật rừng rú: cấm nói xấu đảng và nhà nước, phải làm đàn cừu.

Có lẽ chỉ có ở nước Việt Nam, hai chữ “Hòa Bình” được các tay tuyên giáo “đỉnh cao trí tệ” xáo nấu gán cho nhiều nghĩa tùy theo định hướng khác nhau. Cái nghĩa lạ đời nhất là khi hai chữ “Hòa Bình” được kềm kẹp với “Diễn Biến”: Diễn Biến Hòa Bình. Cộng sản gắn nhản hiệu “Diễn Biến Hòa Bình” vào người dân yêu nước quan tâm đến tương lai sống còn của dân tộc trước hành động bá quyền xâm lược của Tàu cộng, lên án tham nhũng tràn lang trong guồng máy nhà nước đảng CSVN từ thượng tần kiến trúc đến tận cơ sở làng xã (7). Cộng sản gán “diễn biến hòa bình” đồng nghĩa với “phản động”. Dân chúng biểu tình ôn hòa tưởng niệm chống hành động tàn ác của Tàu cộng sát hại bộ đội hải quân nhân dân tại Trường Sa, thường xuyên cướp giết ngư dân ngoài Biển Đông thì đảng cộng cho tay sai, luôn cả những bọn trẻ con Hồ vệ binh, gây rối phá hoại, dùng lực lượng công an giả dạng côn đồ công khai đàn áp khủng bố, hành hung những người có quan điểm đối lập với đảng, đòi quyền tư do dân chủ thực sự. Trong khi đó lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại công khai hợp tác sống chung “hòa bình định hướng xã hội chủ nghĩa” với đảng cộng sản Tàu, tôn thờ Tàu cộng, sẵn sàng giao đất đai biển đảo cho chúng để đảng của họ được Tàu cộng bảo vệ, từng bước biến Việt Nam thành một tỉnh lỵ của nước Tàu. Bộ trưởng quốc phòng cộng sản Phùng Quang Thanh lại ôm ấp tay bắt mặt mừng với lãnh đạo Tàu cộng trong khi chúng đang xây căn cứ quân sự trên các đảo của Việt Nam bị họ đánh chiếm tại Trường Sa, và “lo lắng/tâm tư” khi người dân ghét và lên án Tàu cộng xâm lược biển Đông và giết hại ngư dân (8).

Trong khi cả nước vẫn còn bị đảng cộng sản cai trị độc đoán, tiếng nói của người dân bị ngăn cản, người yêu nước bị khủng bố, sinh mạng bị đe dọa, bị tù đày với những bản án khắc nghiệt và vô nhân đạo thì lời nói “lên án khủng bố” của đảng CSVN chỉ là lời nói đãi bôi!

Chỉ khi nào đảng CSVN chấm dứt độc quyền chính trị, trả lại mọi quyền tự do dân, chủ quyền đất đai, thừa nhận đa đảng và thừa nhận đảng CSVN chỉ là một đảng trong số các tổ chức đảng phái khác trong sinh hoạt chính trị và điều hành đất nước, thì may ra người dân Việt mới thử tin một lần rằng: “CSVN nay đã yêu hòa bình, ghét bạo lực/khủng bố.”

Việc làm tối thiểu trước mắt để chứng tỏ CSVN thực sự lên án khủng bố, thật sự yêu hòa bình là nhanh chóng trả lại tự do vô điều kiện cho tất cả những tù nhân lương tâm và chính trị đang bị giam cầm vì có quan điểm tự do dân chủ đa nguyên đa đảng, phản đối chế độ toàn trị của đảng CSVN.

Ngày 22/08/2015

Nguồn:
http://danlambaovn.blogspot.com.au/2015/08/cong-san-ba-inh-ot-bien-gene-len-khung.html

Thơ Không Niêm Gởi Bạn

Thư Không Niêm Gửi Bạn
               Trần Văn Lương

(Thay lời một vị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa 
đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa đã vượt biên
nhưng nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về vui chơi)


Gửi nhờ tập vé số trên tay,
Chống nạng đến đây để gặp mày.
Hụt hẫng thấy mày ngồi giữa quán,
Đang cùng bầy cán bộ vui say.

Không muốn bị mang tiếng quấy rầy,
Khi lòng đang thất vọng chua cay,
Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
Viết bậy đôi câu gửi tới mày.



Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày,
Cùng mày trong bóng tối chia tay,
Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
Mày ắt không quên mối hận này.

Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
Nghĩ đến quê hương lại ngậm ngùi.

Mày trở về chơi đã lắm lần,
Lúc thì viện cớ gặp người thân,
Lúc theo “từ thiện” tìm danh vọng,
Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.


Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
Tranh đua làm thiện thật gian nan.
Hân hoan vì chút hào quang giả,
Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.

Mày cũng lần theo đóm múa may,
Hết quà lại cáp phát rền tay.
Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.

Mày biết dân đây được những gì,
Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
Ngơ ngác trên tay một gói mì!

Biết chăng vì những đứa như mày,
Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
Hãnh diện ta đây về “cứu viện”,
Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.

Mày có biết mày đã tiếp tay,
Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
Để khiến dân ta mãi đọa đày.

Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa,
Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?

Mày so với chúng được bao lăm,
Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
Của cải một thằng trong Bắc phủ,
Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.

Phải chăng vì cật ấm cơm no,
Mày lại mơ màng chức vị to,
Nên mới trở cờ o bế giặc,
Qua sông ngoảnh mặt với con đò?

Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
Góp sức nuôi bè lũ hại dân.

Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.

Có thằng may mắn lắm đồng ra,
Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
Có đứa làm sui gia với giặc,
Ra ngoài trở mặt líu lo ca.

Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
Giờ đã “vinh quy” đủ bấy thằng!

Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
Sao lại vô tâm được thế này?

Lần cuối cho tao nói một lời:
Nếu còn người trở lại ăn chơi,
Đua đòi danh lợi, buôn “từ thiện”,
Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.


*

Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.

Trần Văn Lương
Cali, 5/2012

Thân và Sơ

apple_orange

 

 

 

“Thân” vs. “Sơ” – “Tuy Xa mà Gần, Tuy Gần mà Xa”

Ngày nay, trên Internet và nhất là trên Facebook, hai từ ngữ “bạn” (friends) và “người quen” được nói đến khá nhiều. Và sự phân biệt giũa “người bạn” với “người quen” có khi được ngỡ là hoàn toàn dễ dàng.
Tuy nhiên, thực tế lắm khi không dễ như vậy. Chính Giáo sư Geoffrey Greif. Ph.D., thuộc University of Maryland School of Social Work và tác giả cuốn Buddy System: Understanding Male Friendships, cũng đã cho rằng có 4 loại “bạn”:
JUST FRIENDS – thường chỉ là “người quen” – ACQUAINTANCES
MUST FRIENDS – bạn thật sự khi cần – “Friends in need are friends indeed”
RUST FRIENDS – bạn bè thời hoa niên
TRUST FRIENDS – những bạn tin cậy.
Để dẫn đường cho sự phân biệt “người bạn” với “người quen” – như bạn bè thân thích và “hữu nghị” qua loa, mà ngày nay thường được dùng trên Facebook hay Internet, một số (4) gợi ý lắm khi xét ra cũng cần.
1. Gợi ý trước tiên là: sự phân biệt có thể dựa trên việc đánh giá mức độ quan hệ – qua chiều sâu (“thân” hay “sơ”) của sự tương tác giữa người quen với chính mình.
“Người quen” là những người, dù là mình nhìn thấy họ hằng ngày, như những người làm việc trong cùng nơi với mình làm; họ chỉ nói cười qua loa, hời hợt với mình.
“Người bạn”, trái lại, là người chia sẻ sâu sắc mức độ tương tác hay giao tiếp. Nhưng giao tiếp sâu không hàm ý thường xuyên lui tới. Thực ra, bạn bè đích thực là những người, mặc dù khoảng cách “tuy xa mà gần”, vẫn cố thỉnh thoảng tìm gặp nhau và nói như bất kể thời gian qua đi.
2. Mặt khác, “người bạn” và “người quen” của mình thường có mức độ hỗ trợ khác nhau cho những sở thích hoặc quan tâm của chính mình.
“Người bạn” của mình ắt sẽ hỗ trợ mình – bất kể nỗ lực của mình là gì; trái lại “người quen” với mình thường chỉ chơi với mình những khi mình có cùng mối quan tâm như họ. Chẳng hạn như: nếu mình là hoạ sĩ, và tình cờ mở phòng triển lãm nghệ thuật riêng của mình, “người bạn” của mình khá dễ nhận ra, vì họ cũng cảm thấy hạnh phúc khi mình vui, dù là họ không thích nghệ thuật họa hình. Trái lại, những “người quen” chỉ thích mình vì mình vẽ khá tốt.
3. Hơn nữa, không như “người quen”, ‘người bạn” thường liên quan đến việc giúp nhau hai chiều.
“Người bạn” là người không ngần ngại hoặc hỏi mình để nhờ mình giúp họ, hoặc hỏi mình để chính họ giúp mình khi mình cần sự giúp đỡ. Anh hay Chị ấy có thể liên lạc với mình bởi vì Anh hay Chị ấy cần mình giúp cái gì đó, hoặc hỏi mình về các khó khăn của mình để Anh hay Chị ấy có thể hỗ trợ mình.
Trái lại, “người quen” sẽ là những người hỏi ân huệ một mặt từ mình mà thôi, chớ không gì khác. Chính người quen là người muốn được hưởng lợi nhất từ quan hệ với mình.
4. Sau cùng, “người bạn” hoặc “người quen” có thể nhận biết do sự đối mặt thực sự.
Tuy nhiên, không phải bất cứ ai mà mình đối mặt và nhìn thấy được, và gần hơn về thể chất với mình, đều là “người bạn”. Đôi khi, người ta chỉ tình cờ gặp gở mình ở một nơi nào đó. Và rất có thể, những người này chỉ là “người quen” sơ – “tuy gần mà xa.” Bởi vì “người bạn” là người thực sự dành thời gian BÊN mình, chứ không chỉ tình cờ đụng đầu với mình và gặp nhau làm quen. “Người bạn” cũng là người thực sự dành thời gian CHO mình, nói chuyện dài với mình bất kỳ nơi đâu, hoặc đơn giản tìm đến thăm nhà của nhau, và xem như thể họ thực sự ở chung nhà với chính mình.
Bốn gợi ý trên đây về cách phân biệt “người bạn” và “người quen” tất nhiên rất cần thiết để nhận diện MUST FRIENDS và TRUST FRIENDS trong cách xếp loại của Prof Geoffrey Greif. Hy vọng bốn gợi ý này cũng còn giúp phân biệt mức độ “thân” và “sơ” trong các quan hệ xã hội hằng ngày.

Phó thường dân

“Đế Quốc Mỹ Xâm Lược”

Phản ứng sinh viên Saigon về bài giảng “Đế quốc Mỹ xâm lược?”
Thư gửi cô giáo của một sinh viên năm thứ 2 Khoa học-Xã hội-Nhân Văn Sài Gòn.
Tên Tác giả chưa tìm ra, nhưng mong được biết.

Kính thưa Cô,
Đến tận bây giờ, gõ những dòng E-mail trần tình này gửi đến Cô, em vẫn còn trách ông trời, phải chi cuối tiết “Lịch Sử” hôm ấy trời đừng mưa to thì giảng đường Đại Học không ai còn ngồi lại và Cô cũng đâu có thời gian trò chuyện khuyến khích sinh viên mình… Và, hôm nay, em cũng không phải gõ email này gửi Cô mà em biết khi đọc Cô sẽ không vui…
Em còn nhớ hôm ấy lời Cô nói: “Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, được tái hiện lại, trong hôm nay và ngày mai, phải trung thực, chân thật nhằm cho người sau biết và lấy đó làm kinh nghiệm, xấu xa sai trái thì tránh nếu tốt đẹp có ích thì tự hào để nhân bản thêm lên, vì vậy đề tài bài tham luận: ’37 mùa xuân Đại Thắng’ nói về ‘chiến công thần thánh’ của quân dân ta chống ‘đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước’ của mỗi bạn, cần phải gọt giũa đánh giá cho xứng tầm vĩ đại của dân tộc, trong khi chờ mưa tạnh, chúng ta cùng nói chuyện bên lề ngoài tiết học, các bạn còn điều gì lấn cấn chưa rỏ ở chiều sâu và rộng của bài tham luận mà mỗi bạn sẽ phải hoàn thành, thì cứ hỏi Cô, xem như bạn bè thoải mái bày tỏ quan điểm khách quan và thắc mắc của mình để chúng ta rộng đường suy luận mà viết bài cho sắc sảo có tính thuyết phục cao, ở đây có nhiều bạn theo khoa ‘báo chí’ mà! Nào mời các Phóng Viên tương lai nói chuyện chuyên đề, chờ mưa tạnh…”
Và Cô cười, nụ cười giao lưu rất thoải mái.
Em cũng nhớ, mình là người thứ tư, sau các bạn, vô tư ngập ngừng cười, nói với Cô: “Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì không phải – thưa Cô! Em nghĩ như vậy…”
Sau lời nói, thoáng nhiên giảng đường im phăng phắc làm em chột dạ bối rối thấy mình tự nhiên như đông cứng lại tại chỗ ngồi… Em nhớ, nghe xong lời em Cô quay nhanh bước ra gần cửa sổ ngóng màn mưa ngoài trời một thoáng rồi trở lại. Cô nhìn em trong ánh mắt tuồng như rất giống ánh mắt mẹ em khi đi chợ nhìn người bán hàng trước khi trả giá mua. Cô nói với riêng em một câu ngắn gọn nhỏ thôi đủ cho em nghe: “Hình như bạn đùa không phải lúc…” rồi bình thản cô quay lên bục giảng lấy áo mưa, chần chừ chờ giảng đường thưa người, Cô ra về sau cùng. Không mang theo áo mưa nên em ngồi nán lại. Đi ngang qua, Cô dừng chân, như thầy giáo nhắc bài học trò, cô nói với em: “Bạn cần phải lên thư viện nhiều hơn, tìm trong sách, ở đó có nhiều câu trả lời cho vấn đề của bạn vừa nêu ra, tôi nghĩ, không khéo danh hiệu Đoàn viên Thanh niên CS/HCM ưu tú, xuất sắc, đối tượng của đảng nơi bạn sẽ lung lay…”

Thưa Cô,
Email này của em chắc chắn không phải là chất liệu để em trông đợi giữ cho chặt lại cái danh hiệu “ưu tú-xuất sắc” ấy, mà đơn giản em muốn chứng minh thông điệp – lời cô nói – lịch sử rất cần sự “trung thực, chân thật”.
Thưa Cô! Không phải vui đùa đâu ạ, mà em nói thật lòng: “Chiến tranh với Mỹ là có thật, nhưng nếu nói đó là chống xâm lược để cứu nước – thì… không phải vậy…” Xin phép cô, cho em giữ nguyên nhận định này của mình dù em biết có những di luỵ nhất định không mong đợi… Bởi vì có rất nhiều dẫn chứng để “ai đó có thể lừa dối một số người trong một lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc, nhưng không thể mãi mãi lừa dối được tất cả mọi người.” (Abraham Lincoln). Nói lên điều này em biết Cô sẽ phiền lòng. Nhưng… Thưa Cô! Em tìm thấy trong tác phẩm dịch từ nguyên tác Nhật Bản “12 người làm nên nước Nhật” của Giáo sư Tiến sĩ Đặng Lương Mô (có thể Cô cũng biết!) Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa học New York, năm 1992. Uỷ Ban Nhân Dân TP. HCM khen thưởng kiều bào có công với đất nước, năm 2003.
Trong danh sách “12 nhân vật mà người dân Nhật Bản tôn vinh” – 12 người đã lập nên một nước Nhật hùng mạnh ngày nay, chúng ta lưu ý đến người mang số 10 không phải là người Nhật:
(1) Thái tử: Shotoku,
(2) Chính khách: Hikaru Genji,
(3) Lý Thuyết Gia: Minamoto Yoritomo,
(4) Anh Hùng: Oda Nobunaga,
(5) Kỹ sư: Ishida Mitsunari,
(6) Nhà cải cách: Tokugawa Yeyasu,
(7) Triết Gia: Ishida Baigan,
(8) Chính Khách: Okubo Toshimichi,
(9) Nhà tư bản học: Shibusawa Ei-ichi,
(10) Thống Tướng Hoa kỳ: Douglas MacArthur,
(11) Giáo Sư lý thuyết gia: Ikeda Hayato,
(12) Doanh Nhân: Matsushita Konosuke.

Ông ta [người mang số 10], chính xác là Thống Tướng quân đội Mỹ. Thật không hề dễ dàng chút nào cho gần hai trăm triệu con cháu “Thái Dương thần nữ” phải nhìn nhận một Tướng Lãnh khét tiếng của Mỹ, kẻ thù không đội chung trời của họ trong Đệ II Thế chiến trên Thái Bình Dương và khắp các mặt trận Châu Á, là Tư lệnh quân đội Mỹ chuẩn thuận văn bản đầu hàng của chính phủ Nhật Bản sau đó đại diện cho LHQ và chính phủ Mỹ chiếm đóng Nhật Bản… trở thành một Anh Hùng, ân nhân của Nhật Bản sau 2 quả bom nguyên tử của Mỹ cũng rơi trên lãnh thổ nước này gây nên nhiều tang thương.
Phải là người có nhiều công trạng thực tiễn mang lại một thành quả lớn lao mà giá trị của nó bao hàm đặc tính rõ rệt của chân, thiện, mỹ trong một nhân cách mà người Nhật ví như Anh Hùng (Anh hùng là bậc Chính Nhân Quân Tử) để nhân dân Nhật công nhận, tri ân sánh ngang hàng với Thái Tử và 11 người con cháu ưu tú của “Thần Nữ Thái Dương”.
“Nhân vô thập toàn” Thưa Cô! Tướng Mỹ Douglas MacArthur và quân đội của họ không phải là không có nhược điểm, nhưng bù lại họ tạo ra rất nhiều ưu điểm đôi khi vượt lên trên tập quán thông thường mà nhân danh những người chiến thắng đã xử sự với kẻ chiến bại, khiến những nhược hay điểm yếu không còn là đáng kể.
Cuối Đệ II Thế chiến, ở Đông Nam Châu Á, đạo quân Mỹ hùng mạnh do Tướng MacArthur chỉ huy đã đánh bại và quét sạch quân phiệt Nhật khỏi Indonesia, giải phóng Philippines, hỗ trợ bảo vệ cho Trung Hoa Dân Quốc tại đảo Đài Loan, rồi thay mặt LHQ giải giới vũ khí chiếm đóng Nhật Bản, Sau đó từ Nhật lại tiến qua giải phóng Cao Ly cứu Nam Hàn sắp bị Cộng Sản Bắc Hàn nuốt chửng. Nhưng thưa Cô! Quân Mỹ đổ máu xương giải phóng (đúng nghĩa giải phóng) các quốc gia này nhưng hoàn toàn không có tham vọng 1 cm2 đất đai nào từ các lãnh thổ ấy.
Vì sao vậy? Còn bên kia bán cầu, cũng đạo quân Mỹ (xâm lược?) phối hợp với 2 (cựu đế quốc thực dân) Pháp và Anh chiếm đóng, giải giới, quân phát xít Đức, toàn quyền định đoạt số phận một nửa quốc gia Đức, nhưng sao họ không cùng nhau chia phần xâu xé Tây Đức, mà ngược lại, bảo trợ toàn diện (kẻ thù của họ ở đầu hôm) phát triển vững mạnh trên cái nền tự do dân chủ đến nỗi cảm hoá được phần phía Đông, giả từ CNXH thống nhất quốc gia trong yên bình êm ái?
Tại Nhật Bản, Tướng MacArthur và quân đội Mỹ đã áp dụng một chính sách chưa có tiền lệ trong lịch sử thế giới với Nhật Bản “quốc gia tù binh” của họ. Ông tôn trọng Thiên Hoàng Nhật Bản, không ép buộc thoái vị (dù LHQ và chính phủ Hoa Kỳ không cấm ông truất phế).
Chưa được Quốc Hội Mỹ chính thức phê chuẩn, nhưng trên cái nền Kế hoạch Marshall (Marshall Plan tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall người đã khởi xướng) nhằm viện trợ tái thiết một nền móng kinh tế chính trị vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu nâng cao mức sống và kiến thức của người dân để đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Thế chiến II. Trong vòng 2 thập kỷ, nhiều quốc gia ở Tây Âu đạt được mức tăng trưởng và phồn vinh chưa từng có nhờ kế hoạch Marshall này.
Chính phủ Mỹ thông qua tướng MacArthur cũng có chủ trương tương tự với Nhật Bản, bên cạnh còn cải tổ hệ thống chính quyền, lãnh đạo, từ chính trị, kinh tế, tới sửa đổi hiến pháp, nghi lễ của hoàng gia, nhất thiết mỗi việc đều do một tay MacArthur quyết đoán, ông chỉ ra những khiếm khuyết trong thời chiến tranh mà giới lãnh đạo Nhật Bản đã có những sai lầm, ông đoan chắc cùng nhân dân Nhật khi Nhật Bản trở thành một nước dân chủ, quản lý một nền công nghiệp chiến tranh chuyển đổi qua thời bình một cách khoa học thì sẽ sớm giàu mạnh, không thua gì nước Mỹ, ông không ngần ngại nói với người dân Nhật rằng, Nhật Bản đã thua Mỹ vì kém về mặt vật chất kinh tế tài chính chứ không phải là tinh thần vì họ đã chiến đấu rất dũng cảm mà vẫn thua, nên đa số dân Nhật thuyết phục bởi sự cải tổ ấy.
Ông chủ trương phá bỏ chủ nghĩa quốc gia dân tộc và chế độ phụ thuộc quá nhiều vào ảnh hưởng của Hoàng Gia, để Nhật Hoàng chỉ còn là biểu tượng. Nhật Bản cũng có một nền văn hoá tự do coi trọng sự lựa chọn của cá nhân như nước Mỹ, Thủ tướng và nghị viện do người dân trực tiếp chọn lựa qua lá phiếu của mình. Một vài chính khách Nhật còn hoài cổ nặng chủ nghĩa cực đoan dân tộc cho rằng Tướng MacArthur là một chính trị gia độc tài áp đặt, nhưng đại đa số người Nhật cho là sự độc tài ấy để cho một nước Nhật hùng mạnh chứ không là nước Mỹ.
Rất ngẫu nhiên cái cách mà người Mỹ, tướng MacArthur đã thể hiện trong cuộc chấn hưng nước Nhật sau chiến tranh nó rất gần với tính cách tinh thần võ sĩ đạo của người Nhật (nhân ái, bao dung thay thù hận) nên mang lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản ngày nay. Ở Châu Âu người ta ví von nước Mỹ có công khi biến Nhật Bản thành một Thuỵ Sĩ Viễn Đông! Vì vậy, Douglas MacArthur đã được mọi thành phần, [mọi] khuynh hướng, [mọi] chính đảng, từ Hoàng Gia đến thứ dân đều chọn làm người thứ mười trong “12 người lập ra nước Nhật” hùng mạnh từ trong điêu tàn đổ nát chiến tranh. Đây là người ngoại quốc duy nhất được chọn trong lịch sử nước Nhật.

Thưa cô!
Lại càng không thể nào đó là bản chất của đế quốc xâm lược thực dân (dù kiểu cũ hay mới) chỉ 6 năm (2/9/1945 – 28/4/1952) sau khi chiếm đóng, nước Mỹ đã trả lại sự độc lập hoàn toàn cho Nhật Bản sớm hơn thời gian trù bị, ngoài sự kỳ vọng của toàn dân Nhật và không hợp logic chút nào khi hiện nay, 2012, chính phủ và người dân Nhật vẫn còn đài thọ mọi chi phí cho gần 40.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất nước mình vì sự an toàn cho nền an ninh quốc gia, không ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất “xâm lược” ăn ngủ hơn 2/3 thế kỷ trên đất nước mình!
Và đạo quân “xâm lược” này chỉ đặt chân lên miền Nam VN, sau 20 năm có mặt tại Hàn và Nhật Bản, hai quốc gia nhờ họ mà “màu mỡ” về kinh tế hơn hẳn VN nhiều lần. Nhưng điều đáng để người VN suy ngẫm là quân Mỹ có mặt nơi đó mà không màng đến “xâm lược” thì họ xâm lăng một VN nghèo khó sau Pháp thuộc để làm gì, ngoài ý định cũng thông qua kế hoạch Marshall giúp VN, cụ thể là miền Nam VN phát triển giàu mạnh ổn định như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan?

Thưa Cô!
Làm sao biện minh? 45.000 quân “xâm lược” Mỹ vẫn hiện diện trên đất Hàn Quốc, một quốc gia khủng hoảng lương thực trầm trọng không đủ cơm gạo cho dân sau chiến tranh Nam Bắc nhưng hôm nay thì: nhiều báo chí ở Việt Nam nói về đất nước này hay thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn.
Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc nội chiến Bắc Nam đã vươn lên thành một quốc gia phát triển hùng mạnh thịnh vượng hơn hẳn nửa kia ở phía Bắc nghèo nàn lạc hậu. GDP “cán mốc” 1.000 tỷ USD/năm cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như SamSung, LG, Hyundai, Kia, Daewoo… Nhưng, thành tựu đó họ có được là do đâu? Ngoài sự lãnh đạo sáng suốt của các nguyên thủ Hàn Quốc, thì sự hỗ trợ nhiệt tình như là một đồng minh của Mỹ trên tinh thần kế hoạch Marshall là yếu tố quyết định.
Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới theo GDP năm 2006. Kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới (hạ tầng cơ sở, thiên nhiên, thổ nhưỡng kém xa Việt Nam) trở thành một trong những nước giàu nhất.
Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỷ lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn Quốc như là “Huyền thoại sông Hàn” đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục.
Với Đài Loan và Phillipines: năm 1950,
Không Đoàn 13 của Không quân Mỹ đã từng đóng tại Đài Loan. Tháng 12-1954, Mỹ và Đài Loan ký “Hiệp ước phòng thủ chung”, đặt Đài Loan vào sự bảo hộ của Mỹ. Cũng nằm trong quỹ đạo của kế hoạch Marshall, Đài Loan được hưởng nhiều quy chế ưu đãi thương mại từ nước Mỹ trong một thời gian dài, đưa nền kinh tế nhanh chóng phát triển ngoạn mục thành một con “Rồng” Châu Á mà ngay chính Trung Quốc cũng phải kiêng dè.
Tại Phillipines, quân đội Mỹ cũng từng hiện diện trong một thời gian dài. Hạm Đội 7 Thái Bình Dương chọn vịnh Subíc là nơi đóng quân, và trước đó, năm 1935, Douglas MacArthur, được Tổng thống Phillipines Manuel L.Quezon yêu cầu giám sát việc thành lập quân đội Philippines. Ông được phong hàm Thống tướng trong Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippine Army). Ông là sĩ quan cao cấp có tên trên danh sách của Quân đội Philippines ngày nay. Ông cũng là sĩ quan quân sự Mỹ duy nhất giữ cấp bậc thống tướng trong quân đội Philippines. Sau đó, tôn trọng quyết định của nhân dân Phillipines vì sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ, quân đội Mỹ đã rút khỏi vịnh SuBíc. Nhưng ngày nay (2012), vì an ninh lãnh thổ đe doạ, Phillipines yêu cầu, quân đội Mỹ vẫn quay lại thể hiện sự trách nhiệm trong hiệp ước hỗ tương…

Thưa Cô!
Với những gì thuộc thế giới quan mà kiến thức em tích luỹ được, thì dù rất muốn hãnh diện về “chiến công thần thánh” của quân dân ta chống “đế quốc Mỹ xâm lược cứu nước” nhưng: Lịch sử rất cần sự “trung thực” đến “chân thật” (lời Cô nói). Nên: Em cũng muốn tin – nhưng không thể, thưa Cô!

Em cám ơn Cô đọc email trần tình này và mong có lời chỉ giáo thêm của Cô.
Em kính chào Cô.

Không Cho Phép Mình Quên

Không Cho Phép Mình Quên – Tác giả: Nguyễn Khánh Vũ
Nguồn: http://freespeech4vietnam.blogspot.fr/2013/12/khong-cho-phep-minh-quen-nguyen-khanh-vu.html
Nhiều người cho rằng chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm rồi, vả lại Việt cộng cũng thay đổi rồi, sao lại chống?
Với tôi, những bài học, những kinh nghiệm thương đau mà thế hệ Cha Anh đã có với Việt cộng nhắc tôi phải cảnh giác luôn luôn.

Bài học thứ 1:
Việt cộng giết người Quốc gia ngay trong thời kỳ phôi thai kháng Pháp, đánh Nhật, vì Việt cộng muốn cướp quyền lãnh đạo đất nước, để có thể toàn quyền làm tay sai cho cộng sản quốc tế trước kia, và nay cho quan thầy Trung cộng.

Bài học thứ 2:
Trong những kỳ cải cách ruộng đất, Việt cộng đã giết biết bao người dân vô tội, giết ngay cả những người mà có lẽ chẳng bao lâu trước đó đã hào phóng bỏ ra vàng, tiền của đóng góp trong các cuộc quyên góp cho Việt cộng.

Bài học thứ 3:
Ký kết ngưng bắn với Việt cộng chưa ráo mực thì Hồ Chí Minh xua ngay quân giết hàng ngàn đồng bào miền Nam vô tội trong Tết Mậu Thân.

Bài học thứ 4:
Việt cộng xé ngay bản hòa đàm Paris mà chúng vừa ký.

Bài học thứ 5:
Trường học Cai Lậy, nơi bao trẻ thơ đang ê a bên trang sách, sao lại là mục tiêu pháo kích của Việt cộng? Sao Việt cộng lại nhẫn tâm bắn vào hàng ngàn đồng bào vô tội đang trốn chạy “giải phóng quân” trên đại lộ kinh hoàng?

Bài học thứ 6:
“Nhà nước thông báo để nhân dân đừng tin vào các tin đồn thất thiệt. Nhà nước sẽ không đổi tiền”. Và việc đổi tiền, thực chất là một cuộc ăn cướp tài sản của người dân miền Nam, được tiến hành chỉ một ngày sau đó. Đây là một nhóm thổ phỉ cai trị, chứ không phải là một nhà nước pháp trị. 500 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy 1 đồng tiền Hồ. Việt cộng có cái gì để mà đổi?

Bài học số 7:
– “Ngày mai em sẽ chở các con đến đây thăm anh”, Mẹ tôi bịn rịn chia tay Ba tôi sau khi chở Ba tôi đến địa điểm tập trung “cải tạo”.
Ba tôi căn dặn.
– “Em về ráng lo cho Thầy Mẹ và các con. Đêm nay chắc chắn anh sẽ bị đem đi nơi khác. Và em cũng đừng mong anh sẽ về sau 10 ngày”,
Mẹ tôi trả lời.
– “Nhưng… cách mạng thông báo tập trung 10 ngày mà”.
Ôi thương thay cho người dân hiền lành, thật thà đất nước tôi.
Và chắc đâu đó ở Hà nội, đã có một nhóm người ngồi cười khoái trá.
Trên đây là một ít trong số những bài học “cơ bản” mà tôi luôn tự nhắc mình và “không bao giờ cho phép mình quên.”

Có nhiều người cho rằng Việt cộng đã thay đổi rồi. Với tôi, Việt cộng chỉ là một loài tắc kè dỏm và hạ cấp. Nó thay đổi màu để tồn tại, để tiếp tục lừa bịp, che đậy cái bản chất bất biến của chúng là tàn ác và đê hèn. Với những người cùng một dòng máu Việt thì chúng chẳng chừa một hành vi bẩn thỉu nào, nhưng với kẻ thù phương Bắc, kẻ thù mà ngàn năm trước cha ông ta đã chỉ mặt đặt tên, thì chúng lại quì gối. Khi đọc bản tin Giang Trạch Dân vào tắm ở Đà nẵng, rồi vào Saigon gặp mặt hoa kiều Chợ Lớn, sau đó mới bay ra Hà nội để gặp bọn đàn em ở Ba Đình, lòng tôi sôi sục căm hờn, tủi nhục. Với cái thằng Tàu phù này, Việt Nam xem chừng chỉ là cái ao làng của nó. Khi đọc bản tin thấy đám du khách Trung cộng phất cờ, đón đuốc thế vận trên đường phố Saigon trong khi những người dân Việt bị cô lập, bị đẩy ra xa, tôi biết rằng tôi vẫn còn sáng suốt. Tôi vẫn thấy rõ cái tồi tệ, xấu xí của Việt cộng dù đang được che đậy dưới một cái áo màu mè bên ngoài của một con tắc kè. Việt cộng đã thay đổi?

Tôi may mắn có một người cha sáng suốt với những phân tích sắc bén, thuyết phục. Ông luôn là người đầu tiên tôi tìm đến để tham khảo và hỏi ý kiến khi nghe hoặc đọc thấy những biến động nào trong xã hội. Là một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ở tuổi ngoài 70, ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện vận mạng đất nước. “Muốn chống cộng mình phải hoặc là có tiền hoặc là có quyền”, Ba tôi nói. Và trong tình thế không có cả hai, ông vẫn chống cộng theo cách riêng. Ông hun đúc tinh thần yêu nước cho con cháu trong gia đình qua các câu chuyện kể, qua những nhận định tình hình, nhắc nhở con cháu tỉnh táo trước những mưu chước của Việt cộng. Ông nhắc con cháu dành chút thời gian thắp một nén nhang, đặt một ít hoa, nơi đài chiến sĩ Việt-Mỹ nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Ông cố gắng đến với các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. “Mình đến dù không làm được gì nhưng mình phải đến để thể hiện chính kiến của mình, đồng thời động viên anh em”, Ông thường nói như vậy. Ông đến với các buổi ra mắt sách có liên quan đến lịch sử, đến quân đội và luôn ủng hộ mua sách từ những đồng tiền ít ỏi, Ông nhận được hàng tháng. Tôi được nghe rất nhiều lần từ những người bạn của Ông, từ sơ giao đến thân tình, “Mỗi lần gặp anh, tôi hiểu ra nhiều vấn đề quá”.

Tôi luôn cố gắng theo Ba tôi tham gia các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. Tôi phụ giúp giảng dạy Việt ngữ cho các em nhỏ với hy vọng góp một bàn tay phá vỡ cái nghị quyết 36 mà Việt cộng đã và đang cố gắng thực hiện tại hải ngoại qua sách báo, qua các chương trình ca nhạc của chúng. Tôi tranh thủ giờ ăn trưa trong công ty, để viết bài và tham gia tranh luận trên các diễn đàn với cố gắng “giành dân, lấn đất” với Việt cộng trên mạng điện toán.

Tôi luôn mua băng gốc các chương trình ca nhạc, các tài liệu lịch sử để ủng hộ các trung tâm, các cơ sở có đường hướng chống Cộng rõ ràng. Tôi cố gắng giải thích cho các con tôi khi chúng thắc mắc về lá cờ máu chúng thấy trong sách báo. Bạn bè tôi, có người cho tôi chống cộng cực đoan. Là người Việt nên tôi vẫn nhớ Ông Bà ngày xưa có dạy “một câu nhịn, chín câu lành”.

Tôi cũng cho mình là một người Công giáo kiên định và vâng phục. Chúa tôi có dạy rằng “Nếu có kẻ tát con má bên phải, con hãy đưa má bên trái cho kẻ đó tát”.

Kính thưa Ông Bà,
Việt cộng ngày xưa đày Ba con nơi rừng sâu, chỉ thả về khi Ba con khập khễng trên đôi nạng gỗ với một bệnh án sống thêm được vài tháng là hết. Mấy chị em con bị xếp vào hàng cuối cùng trong xã hội vì “trúng” đủ mọi “tiêu chuẩn” của Việt cộng, dân Bắc di cư – đạo Công giáo – con Ngụy quân Ngụy quyền.

Ngày xưa Việt cộng gọi chúng con là đĩ điếm bám chân đế quốc thì nay là “khúc ruột ngàn dặm”, một khúc ruột mà hàng năm có thể gửi về trong nước gần 10 tỉ tiền đế quốc. Bao nhiêu đồng bào nghèo lê lết sống bên Cambodia hay còn kẹt lại ở Philippines, bao nhiêu công nhân làm tôi mọi khắp nơi, bao nhiêu cô gái bán thân khắp vùng Đông Nam Á, thì sao không là “khúc ruột”?

Trước, Việt cộng giết dân miền Bắc trong “cải cách ruộng đất”, chôn sống dân miền Trung trong “Mậu Thân”, đày đọa, thủ tiêu quân cán chính miền Nam sau ngày “giải phóng”.

Nay Việt cộng lại tiếp tục cướp đất của bao người dân thấp cổ, bé miệng, tiếp tục tàn phá quê hương, phá bỏ đạo đức làm người.
Người dân đã chẳng những “một nhịn”, mà trăm ngàn “nhịn”, mà “lành” vẫn không thấy.

Ông Bà kính,
Làm sao có “lành” với quỷ?

Lạy Chúa,
Việt cộng đánh đồng bào con thê thảm trong “cải cách ruộng đất”. Việt cộng chôn sống đồng bào con trong Tết Mậu Thân. Việt cộng đánh gia đình con và biết bao gia đình miền Nam tan nát sau “ngày giải phóng”. Việt cộng đẩy đồng bào con ra biển Đông và hàng ngàn người đã bỏ mình, đã ô nhục, nhơ nhớp dưới tay hải tặc. Nay Việt cộng tiếp tục đánh phá các cộng đồng hải ngoại, nơi chúng con đang xây dựng lại cuộc sống mới cho thế hệ mai sau.

Lạy Chúa,
Chẳng những cả hai má chúng con đã để cho Việt cộng tát, mà toàn thân, lục phủ ngũ tạng cũng tang thương. Thì nay xin Chúa cho con theo câu “có lúc con phải hiền như con trừu, có khi con phải khôn ngoan như con rắn”. Tôi có cực đoan không khi tôi chống Cộng hay Việt cộng đã thay đổi chăng? Tôi sẽ còn chống cộng ngay cả khi Việt cộng không còn trên quê hương tôi.

Ngày quê hương thanh bình, tôi sẽ về lại vùng quê Mỹ Tho hiền hòa, mở một ngôi trường dạy học cho các em nhỏ. Và lồng trong những bài học Việt văn, toán học, tôi chắc chắn sẽ kể cho các em nghe những tội ác của Việt cộng, nhắc cho các em những kinh nghiệm thương đau của cha ông, với một hy vọng các em sẽ không bao giờ để cái chủ nghĩa quái thai này xuất hiện một lần nữa trên đất nước thân yêu dưới bất kỳ hình thức nào.

Tôi viết bài này trong niềm tưởng nhớ người Chú, người Cậu, những sĩ quan anh dũng của quân lực Việt Nam cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến, những đứa em và bà con xa gần chết trên biển Đông, vì lý tưởng tự do.

*****