Archive for the ‘Logic’ Category

Image

Doing Things

doing_ani

Advertisements

Làm Sao Mà Tin Được

Làm sao mà tin được?

“Read not to contradict and confute, nor to believe and take for granted… but to weigh and consider.” – Francis Bacon

Với sự tràn ngập thông tin từng ngày từng giờ trong thế kỷ 21 này, công thức W5H hay H5W (“Hát Năm V”) không còn mới lạ gì đối với đa số bạn đọc – nhất là các “học giả” ngoài đời và trên mạng. Tuy nhiên, thông tin dù do ai cung cấp hay từ đâu đến, nếu chỉ dựa vào công thức nêu trên, cũng có thể không những chưa đủ mà còn đưa đến thông tin sai lầm (misinformation). Phần nhiều những gì người ta nói và viết – nhất là trên Internet – đều không thể để được vội tin mà cần được xem xét lại – “to weigh and consider” (Francis Bacon).
Hầu như nhiều người đã biết rằng khi cung cấp thông tin, các yếu tố trong công thức H5W (“Hát Năm V”) là:
How trình bày sự việc diễn tiến như thế nào?
What nói đến cái gì?
When cho biết lúc nào?
Where cho biết ở đâu?
Who nêu rõ ai đã là tác nhân hay đối tượng?
Why giúp biết tại sao?
Không ít người đã dựa vào công thức H5W (“Hát Năm V”) để cho rằng nguồn tin của mình đã dựa trên dữ kiện. Từ đó họ đã tưởng rằng thông tin của mình có giá trị thuyết phục về mặt pháp lý hay khoa học.
Thật ra, với các chi tiết dựa vào H5W (“Hát Năm V”), thông tin tuy có vẻ chi ly nhưng vẫn chưa bảo đảm giá trị xác thực và khoa học. Trong khi đó Khoa học có cả yêu cầu về Chi ly (Precision) và về mức Chính xác (Accuracy). Mặt khác, dữ kiện và thông tin không nhất thiết phản ảnh chính xác sự thật. Dữ kiện có thể ghi nhận sai hoặc bị làm sai lệch sự thật. Thân nhiệt có thể đo được khác nhau tùy theo nhiệt kế đem dùng. Một bằng chứng cụ thể khác là qua hàng đống dữ kiện, thông tin, và tranh luận trước nhiều phiên Tòa, sự thật về việc chó Dingo tha bé Azaria Chamberlain ở Uluru (Úc châu, 1982) phải chờ 30 năm sau mới sáng tỏ, người mẹ bị hàm oan mới được giải oan.
Ngày lại ngày, qua tuyên truyền, quảng cáo, và qua lời đồn miệng, không thiếu trường hợp về những thông tin bề ngoài có vẻ khoa học nhưng thật ra chỉ là “giả khoa học” (pseudo-science) hoặc dựa trên ngụy biện; thậm chí còn có những lời đồn và quảng cáo không đúng hẳn với sự thật. Người Việt nam, qua hàng nghìn năm bị giặc Tầu đô hộ, đã là nạn nhân của mê tín dị đoan nên dễ dàng đón nhận thông tin mà không cần kiểm chứng. Ví dụ: Đâu là bằng chứng cho câu “Nhất nam viết hữu; thập nữ viết vô”? (Một nam gọi là có; mười nữ cũng bằng không!)  Ngày xưa, sau mỗi lần sanh, các bà mẹ quê phải tìm xin uống nước tiểu của trẻ con. Ngày nay, để trị bệnh tiểu đường, cũng còn có người cho rằng phải xin nước tiểu của người khác để uống; có người ăn trái bưởi để giảm cholesterol trong máu; có người mới cảm sốt là vội theo lời “khuyến dụ” dùng ngay thuốc kháng sinh mà chẳng cần biết có bị nhiễm khuẩn hay không!
Như vậy, trong thế kỷ 21 này, muốn có cơ sở khoa học, ngoài H5W (“Hát Năm V”), thông tin còn cần chứng cứ (Evidence) VÀ phải là chứng cứ  (Evidence) đáng tin và có khả năng đưa đến sự thật (Truth) – hay ít ra cũng dựa trên (hoặc đưa đến) một học thuyết (Theory) khả tín. Thêm vào đó, một điểm cần chú ý thêm là: chứng cứ (Evidence) chưa hẳn là bằng chứng (Proof). Trong số những tiêu chuẫn để chứng cứ đáng tin và được chấp nhận về pháp lý như là bằng chứng (Proof == admissible evidence) phải kể đến chứng cứ dựa trên tư liệu (documentary evidence); những chứng cứ chỉ dựa vào lời phao tin (hearsay, “someone told me”, innuendo, “thin air stories” or rumor) hoặc chỉ dựa vào bối cảnh (circumstantial evidence) thường không được luật pháp chấp nhận như là bằng chứng (proof). Về phương diện khoa học hoặc y khoa cũng vậy, bằng chứng đáng tin cậy không thể chỉ căn cứ trên một sự kiện riêng lẻ (anecdote) hay trên một mẫu nhỏ (small sample) vài trăm người; những chứng cứ loại hạn hẹp này khó có thể đem dùng vào một tập thể (population) rộng lớn hàng nghìn hoặc triệu người, hay trong một không gian và thời gian nghiên cứu khác biệt. Sự thật trong môi trường Âu-Mỹ chưa chắc có thể áp dụng trong bối cản Á-Phi. Và lại còn vấn đề “Sự thật ngày nay không thật đến ngay mai.” – Xuân Diệu, Phải Nói.
Bằng chứng cũng sẽ mất giá trị thuyết phục nếu có thiên lệch (Bias), thiếu chính xác hay không đủ xác xuất đáng kể. Thêm vào đó, quá trình nghiên cứu và cách thâu thập dữ kiện cũng phải được khoa học công nhận – như dựa trên phép so sánh được gọi là “mù đôi” (double blind). Nói khác đi là bằng chứng phải đạt tính đặc thù (Specific – không chung chung), phải xuất phát từ phương pháp so sánh khoa học (Methodical – không tùy tiện), phải xác thực (Authentic – không ngụy tạo) và Chính xác (Accurate), phải hợp cảnh (Relevant – không lang bang, lạc đề), và phải hợp thời (Timely – không cũ rích). Ngắn gọn hơn, bằng chứng phải là SMART (Specific, Methodical, Authentic-Accurate, Relevant, Timely.)
Nói đến chữ “SMART”, lại cần để ý thêm rằng: thế hệ trẻ lắm khi còn “Smart” hơn cả cha ông. Thật vậy, ngày nay, một số trẻ em còn được cha mẹ hay thầy cô trang bị bằng công thức ABCDE để nhận định tin tức (information = “thông tin” – từ ngữ của bên kia). Trong công thức này, các cháu đã biết rằng: A dành cho Accuracy , Authority, và  Authenticity; B dành cho Bias và Balance; C dành cho Content và Coverage (ví dụ sample size); D dành cho Date và Documentation (ví dụ References); E dành cho Evidence. Và chúng cũng có thể “Google” để tìm hiểu định nghĩa của các từ ngữ như Accuracy, Bias, Coverage, v.v…
Nếu giới trẻ còn biết khó tin khi vô chứng cứ, thì người lớn “làm sao mà tin được”?
Câu đáp đơn giản là: Cần mài cho sắc bén (t0 WHET trong tiếng Anh) các “Hát Năm V” (H5W) thâu nhận được.

Tóm gọn lại:
1. Thiếu bằng chứng thật là SMART như vừa nêu, thông tin – dù là từ đâu hay do ai – cũng sẽ thiếu đi giá trị thuyết phục và tất nhiên cũng mất đi giá trị khoa học.
2. Công thức H5W (“Hát Năm V”), cần được bổ sung bằng công thức “WHET” (What, When, Where, Who, Why, How, Evidence, và Truth/Theory) để thông tin tăng thêm giá trị thuyết phục.
3. Thiếu giá trị thuyết phục thì thông tin chỉ đáng được “ngậm mà nghe” và người trao tin cũng chỉ đáng “kính nhi viễn chi!” (kính mà xa vậy!)

Phó thường dân