Archive for the ‘Dược’ Category

Thuốc Tây Quá Hạn

Tiều Phu

Medicines

Trong thời gian gần đây trên diễn đàn internet thấy luân chuyển bài viết của một tác giả bàn về đề tài thuốc tây hết hạn vẫn còn có thể xử dụng được. Nhận thấy bài viết này có nhiều điểm không hợp lý nếu xét trên phương diện khoa học, vì thế tôi tạm buông rìu dùng bàn phím gửi đến bà con xa gần một số điểm sau đây qua kinh nghiệm thực tiễn kết hợp với những quy luật của giới hữu trách Y Tế Liên Bang Úc Đại Lợi.

Trước hết chúng ta nên hiểu ý nghiã của ngày hết hạn xử dụng (expiry date) của một dược phẩm.
Theo định nghiã ngày hết hạn của một dược phẩm là điều tối cần thiết để xác định mức độ an toàn và xác định dược phẩm đó sẽ hiệu nghiệm như mục đích dự liệu của nhà bào chế trong thời gian giới hạn ghi trên bao bì đúng điều kiện qui định.

Như thế thì ngày hết hạn xử dụng được xác định căn cứ trên những bằng chứng khoa học qua thời gian nghiên cứu và thử nghiệm về độ bền (stability) khi kết hợp nhiều hoá chất khác nhau để cấu thành một dược phẩm từ nhà bào chế. Thời gian hết hạn xử dụng cũng dựa trên những yếu tố khác kèm theo như điều kiện gìn giữ (nhiệt độ, độ ẩm tại nơi dược phẩm đó được cất giữ).
Như vậy dược phẩm hết hạn xử dụng có thể gây nguy hại cho người xử dụng bằng nhiều cách khác nhau khó đoán được. Thí dụ như tính hiệu nghiệm (effectiveness) của dược phẩm đó và có khi trở thành độc chất (toxic).

Mỗi dược phẩm là một kết hợp bao gồm một hoặc vài hoạt chất (active ingredients) và nhiều chất phụ khác (inactive ingredients)có nhiệm vụ hổ trợ  trên phương diện vật lý và hoá học hầu hoạt chất hoàn thành vai trò được giao phó là chữa trị một căn bịnh nào đó.
Quá trình nghiên cứu và chế tạo một dược phẩm phải trải qua nhiều giai đọan có tính bắt buộc, trong đó giai đọan nghiên cứu về độ bền (stability studies) của dược phẩm trong những điều kiện chung quanh như nhiệt độ (temperature) và độ ẩm (humidity) trong một thời gian ấn định và nghiên cứu về ảnh hưởng của chất liệu cấu tạo bao bì trên sự thay đổi vật lý và hoá học của một dược phẩm trong bao bì đó.
Sau mỗi thời gian ấn định (thường ở các thời điểm của 3, 6, 9, 12, 18, 24, 36 tháng…) dược phẩm được đem từ những nơi cất giữ đúng điều kiện đến phòng thí nghiệm phân tích về hoá lý để tìm những thay đổi nếu có về hình thể vật lý bên ngoài và hoá tính bên trong của hoạt chất nhằm xác định có đáp ứng những yêu cầu tối thiểu về mức độ tinh khiết của hoạt chất và những chất phụ liên quan cũng như tìm xem trong điều kiện cất giữ như thế có phát sinh ra những chất khác lạ hay không do sự tương tác giữa các hoá chất với nhau, và nếu có thì chất đó là chất gì? Độ nguy hại ra sao? v.v…

Sau thời gian một dược phẩm hết hạn nếu ta vẫn tiếp tục xử dụng thì có thể gây ra những hậu quả sau đây:

– Tính công hiệu (efficacy) giảm nên căn bịnh không thuyên giảm mặc dù bịnh nhân vẫn dùng theo liều lượng chỉ dẫn ghi trên bao bì.

– Không an toàn cho người xử dụng vì có những biến đổi hoá học bên trong không dự đoán được sau thời gian hết hạn xử dụng.

Bây giờ chúng ta cũng nên nói sơ qua về những dược phẩm mặc dù còn thời gian hiệu lực nhưng vẫn nên cẩn thận xem coi trước khi xử dụng. Nếu vì lý do bất cẩn nào đó ta đã không thực hành điều kiện ghi trên bao bì (storage conditions) thì dược phẩm đó có thể bị ảnh hưởng tới độ bền và cũng có thể gây nguy hại cho người xử dụng, chẵng những không trị được bịnh mà còn gây ra những hậu quả khó lường trước được.

Vậy thì chúng ta không nên mạo hiểm xử dụng thuốc tây đã hết hạn vì yếu tố kinh tế (tiết kiệm được tiền) mà nên chú trọng tới tính công hiệu (efficacy) và sự an nguy (safety) của chúng ta. Không một dược sĩ, bác sĩ hay một nhà khoa học nào có thể đưa ra kết luận một dược phẩm hết hạn vẫn còn xài được nếu nó không dựa trên những bằng chứng khoa học kiểm nghiệm được Bộ Y Tế Liên Bang cứu xét và chấp thuận.

Cũng theo lời khuyên của cơ quan Quản Trị Dược Phẩm của Bộ Y Tế Liên Bang Úc Đại Lợi thì hàng năm chúng ta nên kiểm tra lại tủ thuốc gia đình theo những góp ý như sau:

– Ngoài những dược phẩm có ghi chỉ dẫn theo toa bác sĩ, các loại khác nên xem kỹ được dùng với mục đích gì

– Xem lại cách hướng dẫn và những lời cảnh báo ghi trên bao bì mà ta nên theo.

– Xem lại lời khuyên về điều kiện cất giữ dược phẩm (nhiệt độ và độ ẩm)

– Xem lại ngày hết hạn xử dụng và hủy bỏ chúng một cách an toàn nếu quá ngày hết hạn ghi trên bao bì.

Bài này được biên soạn dựa trên kinh nghiệm cá nhân và những nguồn thông tin từ các cơ quan Y Tế có thẩm quyền.
Mong bà con ta luôn theo đúng lời chỉ dẫn của bác sĩ gia đình cũng như những thông tin được nhà bào chế ghi rõ trong cách xử dụng, không nên tự ý có quyết định thay đổi cách thức xử dụng các dược phẩm.

TP ngày 8 tháng 11 năm  2013.

Tài liệu tham khảo:

http://www.fda.gov/drugs/resourcesforyou/specialfeatures/ucm252375.htm
http://www.tga.gov.au/consumers/information-medicines-label.htm
Tiều Phu

Advertisements

Ngệ Thuật Uống Thuốc – Phần 2

Nghệ Thuật Uống Thuốc – Phần 1

Quy Trình Chế Tạo Một Tân Dược Phẩm

Quy Trình Chế Tạo Một Tân Dược Phẩm
Tác giả: Tiều Phu

Để đem một dược phẩm mới đến cho bịnh nhân là một quá trình lâu dài và nhiều tốn kém. Bên cạnh những hổ trợ của tiến bộ  khoa học và sư thông hiểu về cơ cấu sinh hoá học, việc khám phá dược phẩm vẫn còn là một công trình phức tạp với môt tỳ lệ thành công khiêm tốn. Tính trung bình mất 12 năm và phí tổn khoãng từ 800 triệu đến 1 tỉ US đô la từ lúc bắt đầu cuộc nghiên cứu cho đến khi tân dược phẩm được đưa ra xử dụng trên cơ thể bịnh nhân. Tân dược phẩm là một công trình nghiên cứu thường là sự phối hợp và cố gắng đồng bộ trên nhiều lãnh vực và qua 4 giai đọan như sau:

SƠ ĐỒ CHẾ TẠO MỘT TÂN DƯỢC PHẪM

Giai đoạn 1:
Khám phá
hoạt chất
 

 arrow1

Giai đoạn 2:
Tiền thử nghiệm lâm sàng
 

arrow1

Giai đọan 3:
Thử nghiệm lâm sàng
 

arrow1

Giai đoạn 4:
Xem xét kiểm tra và đăng ký

Giai đọan 1: (Khám phá hoạt chất -Đi tìm một hoạt chất có triễn vọng)
Công việc khám phá ra một tân dược phẩm bắt đầu từ phòng thí nghiệm.
Mục tiêu căn bản lúc ban đầu là tập trung nghiên cứu về sự phát triễn của mầm bịnh trên một mức độ quy mô với nhiều người tham dự. Trước hết những nhà nghiên cứu tím cách xác định mầm bịnh và những yếu tố mang tính cách di truyền có liên quan đến căn bịnh. Trong chu trình gọi là “”xác định tên tuổi” rồi sau đó chọn lựa mục tiêu là thiết lập những giai đọan cần thiết nhất nhằm tìm ra một phương pháp điều trị cho căn bịnh.

Giai đoạn tiếp theo là làm sao định ra tên tuổi của đơn chất hoặc hợp chất có tác dụng trên những mục tiêu đã lựa chọn lúc ban đầu. Mục đích là tìm ra một hợp chất mà nó có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc có khả năng tạo ra sự thay đổi trong mầm bịnh.
Khoa học tiến bộ gần đây đã tận dụng nhiều sự tiến bộ trong lãnh vực sinh hoá học tổng hợp để loại bỏ những hợp chất không có tính tối ưu và cuối cùng chĩ chọn ra những chất khả dỉ có thể giúp cho mục tiêu nghiên cứu như đã xác định lúc ban đầu.
Những hợp chất tối ưu này sẽ phãi qua một quá trình thử nghiệm nhằm xác định độ khả dĩ chấp thuận được như độ hoà tan, độ bền, mức độ dễ tổng hợp và những phát triễn về sau.
Khi một hợp chất thích hợp được định vị, nó sẽ phãi qua một quá trình “định giá trị” để chứng minh là căn nguyên gây ra mầm bịnh. Trong quá trình định giá này, các nhà nghiên cứu sẽ loại dần và chọn ra một số ít hợp chất có khả năng điều trị căn bịnh
Quá trình sàng lọc để tìm ra một hợp chất có tính tối ưu đôi khi phãi thay đổi bằng nhiều phương cách khác nhau nhằm mang lại hiệu quả tối đa cũng như loại đi những phản ứng phụ nếu có.

Giai đọan  2: Giai đoạn tiền thử nghiệm lâm sàng
Công cuộc thí nghiệm trên những tế bào được diễn ra trong phòng thí nghiệm và trên những cơ thể của sinh vật nhắm cung cấp thêm những thông tin cần thiết về độ an toàn và hiệu quả của hợp chất được chọn lựa.
Giai đoạn tiền thử nghiệm bao gồm:
•    Độ hấp thụ, độ phân phối, cơ chế hoạt động và độ độc hại của những hợp chất được chọn lựa.
•    Tốc độ dung nạp và loại trừ của cơ thể sinh vật đối với hợp chất được chọn lựa.
Gia tăng khả năng tổng hợp bằng phương pháp hóa học của hoạt chất và công thức triễn khai củng được thực nghiệm trong giai đoạn này.
Nhưng chỉ có những hợp chất nào mang tính công hiệu tối ưu về tác dụng và an toàn tối đa mới được chọn lựa để triễn khai trong giai đoạn nghiên cứu tiếp theo.
Những thông tin và dử liệu thu thập được sẽ được các cơ quan có thầm quyền của chính phủ duyệt xét và chấp thuận trước khi thuốc được phép thử nghiệm trên cơ thể con người.Quá trình này thường mất nhiều năm  từ lúc  xác định mục tiêu của cuộc nghiên cứu cho đến giai đoạn thử nghiệm lâm sang.

Giai đọan 3: Tiến hành thử nghiệm lâm sàng
Trước khi tân dược phẩm đến tay bịnh nhân thuốc này phãi chứng tỏ tính hiệu quả và dung lượng chấp nhận của cơ thể con người. Những cuộc thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên những tình nguyện viên để biết trước khi được chấp thuận thử nghiệm trên bình diện rộng lớn hơn. Thử nghiệm lâm sàng là một giai đoạn cần thiết và bắt buộc trước khi tân dược phẩm được cho phép sãn xuất.
Thử nghiệm lâm sàng cũng được tiến hành trên những dược phẩm đã được chấp thuận nhằm:
•    So sánh với phương pháp điều trị hiện đang có nhắm xác định phương pháp điều trị nào tốt hơn.
•    Nghiên cứu xem những phương cách trị liệu khác nhau có thể được áp dụng nhằm gia tăng hiệu năng của thuốc và giảm tối đa những phản ứng phụ.
•    Học hỏi cách thức xử dụng những phương cách điều trị mà trước đây chưa được thử nghiệm trên những nhóm người khác nhau.
•    Thử nghiệm lâm sàng là một tổng hợp nhiều giai đoạn theo trình tự nhất định .Qui trình này cho phép những nhà nghiên cứu đặt ra những thắc mắc cũng như giải đáp trong một chiều hướng nhằm cung cấp những thông tin đứng đắn về tân dược phẩm cũng như để bảo vệ an tòan cho bịnh nhân. Mổi qui trình mới được xây dựng trên những thông tin thu thập được từ những qui trình trước nó.

Thế nào để thực nghiệm lâm sàng?
Thí nghiệm lâm sàng được thực hiện ở các bịnh viện hoặc những viện nghiên cứu y khoa. Mổi cuộc thí nghiệm được tiến hành một cách cẩn thận nhằm trả lời những thắc mắc riêng biệt trong cuộc nghiên cứu. Một kế hoạch cho việc thử nghiệm lâm sang được gọi là quy trình ấn định (protocol) trong đó nêu rõ những gì sẽ được làm,. bởi những ai và lý do tại sao. Quy trình ấn định này nêu ra những nhóm bịnh nhân sẽ tham gia vào cuộc nghiên cứu và những giai đoạn cần phải có, tên thuốc, liều lượng thử nghiệm , thời gian thử nghiệm  cũng như những chỉ số sinh học sẽ được đo lường. Môi cá nhân tham gia cuộc thử nghiệm phải đồng ý với nhửng điều kiện đã được nêu ra trong quy trình ấn định. Trước khi cuộc thử nghiệm bắt đầu, quy trình này phải được sự chấp thuận bởi một ủy ban đặc biệt của viện nơi mà cuộc thử nghiệm sẽ được tiến hành.

Ai sẽ thực hiện những cuộc thử nghiệm lâm sàng?
Những cuộc thí nghiệm lâm sàng sẽ được thực hiện bởi nhóm chuyên viên bao gồm bác sĩ, y tá và nhửng chuyên viên về săn sóc sức khỏe. Họ sẽ điều hành những cuộc thí nghiệm lâm sàng dựa theo những tiêu chuẩn và nội quy được vạch ra trong qui trình ấn định (protocol )và tuân theo những quy luật nghiêm khắc của Cơ quan Kiểm Tra Dược phẩm thuộc Bộ Y Tế Liên Bang (Theurapeutic Goods Administration) nhằm bảo đảm an toàn về sức khoẻ tối đa  cho những người tự nguyện tham gia công cuộc thử nghiệm này.

Ai sẽ bảo trợ cho những cuộc thí nghiệm lâm sàng và nó được tiến hành như thế nào?
Nó bao gồm một số bước trong quá trình thử nghiệm lâm sàng, được tiến hành qua từng giai đọan như sau:
– Giai đoạn thử nghiệm I – Phương pháp điều trị này có an toàn không?
– Giai đoạn thử nghiệm II – Phương pháp điều trị này có hiệu quả không?
– Giai đoạn thử nghiệm III – Phương pháp điều trị này có hiệu quả hơn so với những phương pháp điều trị đang có sẵn hay không?
– Giai đoạn thử nghiệm IV- Theo dõi  độ an toàn và công hiệu của thuốc đề nghi.

Giai đoạn I
Môt số nhỏ những thiện nguyện viên khoẻ mạnh ( khoãng từ 20  đến 80 tuổi) được tham gia trong giai đọan I. Những nhà nghiên cứu sẽ xác định liều lượng an toàn cho phép và cách thức xử dụng ( thuốc vào cơ thể qua đường uống hoặc bằng cách tiêm ) với khoãng cách thời gian ấn định.

Giai đoạn II
Khoãng từ 100 đến 300 người đang mang trong người những căn bịnh mà thuốc mới có khả năng điều trị. Giai đoạn này nhằm xác định hiệu quả trong việc điều trị và tìm ra liều lượng tối ưu cũng như cho phép những nhà nghiên cứu định giá khả năng tác dụng của thuốc trên cơ thể con người, trong lúc đó  công việc xác định độ an toàn vẫn phải tiếp tục.

Giai đoạn III
Giai đoạn này chiếm phần lớn nhất trong toàn bộ chương trình thí nghiệm. Ở giai đoạn này thuốc được thử nghiệm rộng rãi trên một số lượng người tham gia (xấp xỉ từ 1000 đến 5000 người) nhằm so sánh thuốc mới với cách điều trị hiện hành nhằm cung cấp thêm nhiều bằng chứng về tính công hiệu và an toàn của thuốc. Cơ quan Quản Trị thuộc Bộ Y Tế Liên Bang sẽ xem xét và nghiên cứu những dử liệu bằng chứng này trước khi đi đến một quyết định về phương cách trị lịệu mới có được chấp thuận hay
không.

Giai đoạn IV
Giai đoạn này vẫn được tiếp tục ngay cả khi thuốc đã được chấp thuận cho ra thị trường bằng cách nghiên cứu và định giá trị thêm dựa trên
tiêu chuẩn an toàn và công hiệu của loại tân dược này.

Điều đáng chú ý thệm là:
•    Chỉ vào khoãng 62% của  hợp chất tìm thây trong giai đoạn thứ nhất được tiếp tục nghiên cứu qua giai đoạn thứ hai.
•    Chỉ vào khoãng 40% cũa hợp chất trong giai đoạn 2 được tiếp tục nghiên cứu qua giai đoạn thứ ba
•    Chỉ có khoãng 60% của  hợp chất trong giai đoạn thứ 3 được Cơ quan quãn trị dược và thực phẩm Liên Bang xem xét.
•    Có đến 23% hồ sơ nộp lên Cơ Quan Qu ãn trị Thực và Dược Phẩm bị từ chối sau khi xem xét.

Tại sao có người tham gia vào thử nghiệm?
Thiện nguyện viên tham gia vào những cuộc thử nghiệm lâm sàng có những lý do khác nhau. Một số người tự nguyện tham gia vì họ muốn giúp đở khoa học trong việc khám phá ra những  hiêu biết về kiến thức cho nền y học trị liệu. Một số khác tham gia vì muốn thử xem phương pháp điều trị mới có mang lại hiệu quả hơn cho họ khi so sánh với cách hiện nay chẵng mấy hiệu quả  và họ cũng cần một phương cách điều trị mới hiệu qủa hơn.

Giai đọan 4:  Chính phủ duyệt xét trước khi chấp thuận cho đăng ký
Ở mổi quốc gia có một quy định để cứu xét và chấp thuận riêng cho một loại tân dược phãm trước khi các bác sĩ được phép ghi toa cho bịnh nhân. Ở úc Đại Lợi có Cơ Quan Quản Trị Dược Phẩm Liên bang gọi tắt là TGA chịu trách nhiệm giám sát việc chế tạo thuốc men nhằm bảo đảm chất lượng, an toàn, hiệu quả  và khả năng cung cấp của nó.

Ủy Ban Lượng Giá của chính phủ Úc Đại Lợi  sẽ cứu xét những loại tân dược phẩm có triển vọng căn cứ trên độ an toàn, chất lượng và hiệu quả. Những công ty dược phẩm được yêu cầu cung cấp những thông tin hiểu biết đến Ủy ban này, bao gồm kết quả nghiên cứu  của 3 giai đoạn 1,2 và 3
Sau khi Cơ Quan Quản Trị Dược Phẩm Úc Đại Lợi xem xét và đồng ý rằng những kết quả nghiên cứu chứng minh tính công hiệu, độ an toàn của tân dược phẩm và chứng minh rằng nó mang lại kết quả tốt hơn cái phương thức đang được xử dụng hiện nay, rồi sau đó tân dược phẩm mới được chấp thuận bởi Ủy Ban Chấp Thuận tân Dươc Phẩm và từ đây tân dược phẩm có thể sản xuất và bán ra trên thị trường.
Nhiều công ty chế tạo dược phầm đăng ký tân dược phẩm với Ủy Ban Cố Vấn Phúc Lợi Dươc Phẩm (PBAC) để xin được vào danh sách nhóm Dược Phẩm được chính phủ tài trợ (PBS). Tất cả những bịnh nhân người Úc Đại Lợi sẽ được hưởng giá trợ cấp của chính phủ nếu dược phẩm có tên trong danh sách PBS.

Ủy Ban Cố Vấn Phúc Lợi Dược Phẩm sẽ căn cứ vào những bằng chứng về tính công hiệu dựa trên giá trị thành phẩm rồi sẽ đưa ra lời cố vấn cho vị Bộ Trưởng Y Tế là có nên hay không nên chấp thuận cho tân dược phẩm này vào danh sách Dược Phẩm Tài Trợ của chính phủ.
Nếu vị Bộ Trưởng chấp nhận lời đề nghị của Ủy ban Cố Vấn Phúc Lợi Dược Phẩm, tân dược phẩm này sẽ được chuyễn qua Ủy Ban Định Giá Dược Phẩm để tiến hành việc thương thảo với Công Ty Sản xuất để thống nhất về giá cả và sau đó thuốc sẽ được đăng ký vào danh sách Dược Phẩm Tài Trợ PBS.
Nếu một  tân dược phẩm sẽ tốn kém cho chương trình tài trợ  trên 10 triệu Úc Kim mổi năm, sự chấp thuận cho tân dược phẩm này vào danh sách Tài Trợ sẽ phải được sự chấp thuận của Nội Các Chính phủ Liên bang. Trong trường hợp tân dược phẩm không được chấp thuận vào chường trình Tài Trơ giá cả PBS, nó vẫn được phép bán trên thị trường tuy nhiên binh nhân sẽ phải trả với giá toàn phần do công ty sản xuất ấn định.
Tóm lược quá trình từ lúc khởi đầu công cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để tìm ra một hợp chất dung làm dươc phẩm cho đến giai đoạn cuối cùng dược phẩm đến bịnh nhân như sau:

Khám phá hợp chât

Giai đoạn tiền thử nghiệm

Các giai đoạn thử nghiệm

Cơ Quan TGA cứu xét

Ủy Ban PBS cứu xét

Những thữ nghiệm ở giai đoạn 4

10,000 hợp chất ở giai đoạn này sẽ được sàng lọc để tìm ra chỉ 1

 

Giai đoạn I (từ 20 đến 100 người tình nguyện )

Giai đoạn II ( từ 100 đến 500 người tình nguyện )

Giai đoạn III ( từ 1000 đến 5000 người tình nguyện)

Đến đây chỉ còn 1 hợp chất được chấp thuận bởi các cơ quan thẩm quyền thuộc Bộ Y Tế nêu trên

5 năm

1.5 năm

6 năm

2 năm

1.5 năm

2 năm

Bài viết này được trình bày dựa trên những tài liệu về quá trình chế tạo một tân dược phẩm qua các tài liệu thu thập như trình bày bên dưới. Tài liệu này chỉ có tính cách phổ quát mà không đi sâu vào chi tiết khoa học cặn kẻ. Những phương cách và giai đọan nghiên cứu có thể thay đổi dựa tr ên những khám phá và thành tựu của nền y học thế giới hiện đại Muốn tìm hiểu thêm xin vào các trang của Bộ Y Tế  Liên Bang hoặc những công ty nghiên cứu và chế tạo dược phẩm có tầm vóc trên thế giới.

Chúc các bác luôn vui khoẻ
Sydney 28 Feb 2011
Tiều Phu

References :
Merck Sharp & Dohme  Australia
Medicines Australia website
Australian Clinical Trials Registry
US Government Clinical Trial Registry
ClinicalTrials.gov  website