Archive for the ‘Đọc Sách Báo’ Category

Không Cho Phép Mình Quên

Không Cho Phép Mình Quên – Tác giả: Nguyễn Khánh Vũ
Nguồn: http://freespeech4vietnam.blogspot.fr/2013/12/khong-cho-phep-minh-quen-nguyen-khanh-vu.html
Nhiều người cho rằng chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm rồi, vả lại Việt cộng cũng thay đổi rồi, sao lại chống?
Với tôi, những bài học, những kinh nghiệm thương đau mà thế hệ Cha Anh đã có với Việt cộng nhắc tôi phải cảnh giác luôn luôn.

Bài học thứ 1:
Việt cộng giết người Quốc gia ngay trong thời kỳ phôi thai kháng Pháp, đánh Nhật, vì Việt cộng muốn cướp quyền lãnh đạo đất nước, để có thể toàn quyền làm tay sai cho cộng sản quốc tế trước kia, và nay cho quan thầy Trung cộng.

Bài học thứ 2:
Trong những kỳ cải cách ruộng đất, Việt cộng đã giết biết bao người dân vô tội, giết ngay cả những người mà có lẽ chẳng bao lâu trước đó đã hào phóng bỏ ra vàng, tiền của đóng góp trong các cuộc quyên góp cho Việt cộng.

Bài học thứ 3:
Ký kết ngưng bắn với Việt cộng chưa ráo mực thì Hồ Chí Minh xua ngay quân giết hàng ngàn đồng bào miền Nam vô tội trong Tết Mậu Thân.

Bài học thứ 4:
Việt cộng xé ngay bản hòa đàm Paris mà chúng vừa ký.

Bài học thứ 5:
Trường học Cai Lậy, nơi bao trẻ thơ đang ê a bên trang sách, sao lại là mục tiêu pháo kích của Việt cộng? Sao Việt cộng lại nhẫn tâm bắn vào hàng ngàn đồng bào vô tội đang trốn chạy “giải phóng quân” trên đại lộ kinh hoàng?

Bài học thứ 6:
“Nhà nước thông báo để nhân dân đừng tin vào các tin đồn thất thiệt. Nhà nước sẽ không đổi tiền”. Và việc đổi tiền, thực chất là một cuộc ăn cướp tài sản của người dân miền Nam, được tiến hành chỉ một ngày sau đó. Đây là một nhóm thổ phỉ cai trị, chứ không phải là một nhà nước pháp trị. 500 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy 1 đồng tiền Hồ. Việt cộng có cái gì để mà đổi?

Bài học số 7:
– “Ngày mai em sẽ chở các con đến đây thăm anh”, Mẹ tôi bịn rịn chia tay Ba tôi sau khi chở Ba tôi đến địa điểm tập trung “cải tạo”.
Ba tôi căn dặn.
– “Em về ráng lo cho Thầy Mẹ và các con. Đêm nay chắc chắn anh sẽ bị đem đi nơi khác. Và em cũng đừng mong anh sẽ về sau 10 ngày”,
Mẹ tôi trả lời.
– “Nhưng… cách mạng thông báo tập trung 10 ngày mà”.
Ôi thương thay cho người dân hiền lành, thật thà đất nước tôi.
Và chắc đâu đó ở Hà nội, đã có một nhóm người ngồi cười khoái trá.
Trên đây là một ít trong số những bài học “cơ bản” mà tôi luôn tự nhắc mình và “không bao giờ cho phép mình quên.”

Có nhiều người cho rằng Việt cộng đã thay đổi rồi. Với tôi, Việt cộng chỉ là một loài tắc kè dỏm và hạ cấp. Nó thay đổi màu để tồn tại, để tiếp tục lừa bịp, che đậy cái bản chất bất biến của chúng là tàn ác và đê hèn. Với những người cùng một dòng máu Việt thì chúng chẳng chừa một hành vi bẩn thỉu nào, nhưng với kẻ thù phương Bắc, kẻ thù mà ngàn năm trước cha ông ta đã chỉ mặt đặt tên, thì chúng lại quì gối. Khi đọc bản tin Giang Trạch Dân vào tắm ở Đà nẵng, rồi vào Saigon gặp mặt hoa kiều Chợ Lớn, sau đó mới bay ra Hà nội để gặp bọn đàn em ở Ba Đình, lòng tôi sôi sục căm hờn, tủi nhục. Với cái thằng Tàu phù này, Việt Nam xem chừng chỉ là cái ao làng của nó. Khi đọc bản tin thấy đám du khách Trung cộng phất cờ, đón đuốc thế vận trên đường phố Saigon trong khi những người dân Việt bị cô lập, bị đẩy ra xa, tôi biết rằng tôi vẫn còn sáng suốt. Tôi vẫn thấy rõ cái tồi tệ, xấu xí của Việt cộng dù đang được che đậy dưới một cái áo màu mè bên ngoài của một con tắc kè. Việt cộng đã thay đổi?

Tôi may mắn có một người cha sáng suốt với những phân tích sắc bén, thuyết phục. Ông luôn là người đầu tiên tôi tìm đến để tham khảo và hỏi ý kiến khi nghe hoặc đọc thấy những biến động nào trong xã hội. Là một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ở tuổi ngoài 70, ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện vận mạng đất nước. “Muốn chống cộng mình phải hoặc là có tiền hoặc là có quyền”, Ba tôi nói. Và trong tình thế không có cả hai, ông vẫn chống cộng theo cách riêng. Ông hun đúc tinh thần yêu nước cho con cháu trong gia đình qua các câu chuyện kể, qua những nhận định tình hình, nhắc nhở con cháu tỉnh táo trước những mưu chước của Việt cộng. Ông nhắc con cháu dành chút thời gian thắp một nén nhang, đặt một ít hoa, nơi đài chiến sĩ Việt-Mỹ nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Ông cố gắng đến với các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. “Mình đến dù không làm được gì nhưng mình phải đến để thể hiện chính kiến của mình, đồng thời động viên anh em”, Ông thường nói như vậy. Ông đến với các buổi ra mắt sách có liên quan đến lịch sử, đến quân đội và luôn ủng hộ mua sách từ những đồng tiền ít ỏi, Ông nhận được hàng tháng. Tôi được nghe rất nhiều lần từ những người bạn của Ông, từ sơ giao đến thân tình, “Mỗi lần gặp anh, tôi hiểu ra nhiều vấn đề quá”.

Tôi luôn cố gắng theo Ba tôi tham gia các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. Tôi phụ giúp giảng dạy Việt ngữ cho các em nhỏ với hy vọng góp một bàn tay phá vỡ cái nghị quyết 36 mà Việt cộng đã và đang cố gắng thực hiện tại hải ngoại qua sách báo, qua các chương trình ca nhạc của chúng. Tôi tranh thủ giờ ăn trưa trong công ty, để viết bài và tham gia tranh luận trên các diễn đàn với cố gắng “giành dân, lấn đất” với Việt cộng trên mạng điện toán.

Tôi luôn mua băng gốc các chương trình ca nhạc, các tài liệu lịch sử để ủng hộ các trung tâm, các cơ sở có đường hướng chống Cộng rõ ràng. Tôi cố gắng giải thích cho các con tôi khi chúng thắc mắc về lá cờ máu chúng thấy trong sách báo. Bạn bè tôi, có người cho tôi chống cộng cực đoan. Là người Việt nên tôi vẫn nhớ Ông Bà ngày xưa có dạy “một câu nhịn, chín câu lành”.

Tôi cũng cho mình là một người Công giáo kiên định và vâng phục. Chúa tôi có dạy rằng “Nếu có kẻ tát con má bên phải, con hãy đưa má bên trái cho kẻ đó tát”.

Kính thưa Ông Bà,
Việt cộng ngày xưa đày Ba con nơi rừng sâu, chỉ thả về khi Ba con khập khễng trên đôi nạng gỗ với một bệnh án sống thêm được vài tháng là hết. Mấy chị em con bị xếp vào hàng cuối cùng trong xã hội vì “trúng” đủ mọi “tiêu chuẩn” của Việt cộng, dân Bắc di cư – đạo Công giáo – con Ngụy quân Ngụy quyền.

Ngày xưa Việt cộng gọi chúng con là đĩ điếm bám chân đế quốc thì nay là “khúc ruột ngàn dặm”, một khúc ruột mà hàng năm có thể gửi về trong nước gần 10 tỉ tiền đế quốc. Bao nhiêu đồng bào nghèo lê lết sống bên Cambodia hay còn kẹt lại ở Philippines, bao nhiêu công nhân làm tôi mọi khắp nơi, bao nhiêu cô gái bán thân khắp vùng Đông Nam Á, thì sao không là “khúc ruột”?

Trước, Việt cộng giết dân miền Bắc trong “cải cách ruộng đất”, chôn sống dân miền Trung trong “Mậu Thân”, đày đọa, thủ tiêu quân cán chính miền Nam sau ngày “giải phóng”.

Nay Việt cộng lại tiếp tục cướp đất của bao người dân thấp cổ, bé miệng, tiếp tục tàn phá quê hương, phá bỏ đạo đức làm người.
Người dân đã chẳng những “một nhịn”, mà trăm ngàn “nhịn”, mà “lành” vẫn không thấy.

Ông Bà kính,
Làm sao có “lành” với quỷ?

Lạy Chúa,
Việt cộng đánh đồng bào con thê thảm trong “cải cách ruộng đất”. Việt cộng chôn sống đồng bào con trong Tết Mậu Thân. Việt cộng đánh gia đình con và biết bao gia đình miền Nam tan nát sau “ngày giải phóng”. Việt cộng đẩy đồng bào con ra biển Đông và hàng ngàn người đã bỏ mình, đã ô nhục, nhơ nhớp dưới tay hải tặc. Nay Việt cộng tiếp tục đánh phá các cộng đồng hải ngoại, nơi chúng con đang xây dựng lại cuộc sống mới cho thế hệ mai sau.

Lạy Chúa,
Chẳng những cả hai má chúng con đã để cho Việt cộng tát, mà toàn thân, lục phủ ngũ tạng cũng tang thương. Thì nay xin Chúa cho con theo câu “có lúc con phải hiền như con trừu, có khi con phải khôn ngoan như con rắn”. Tôi có cực đoan không khi tôi chống Cộng hay Việt cộng đã thay đổi chăng? Tôi sẽ còn chống cộng ngay cả khi Việt cộng không còn trên quê hương tôi.

Ngày quê hương thanh bình, tôi sẽ về lại vùng quê Mỹ Tho hiền hòa, mở một ngôi trường dạy học cho các em nhỏ. Và lồng trong những bài học Việt văn, toán học, tôi chắc chắn sẽ kể cho các em nghe những tội ác của Việt cộng, nhắc cho các em những kinh nghiệm thương đau của cha ông, với một hy vọng các em sẽ không bao giờ để cái chủ nghĩa quái thai này xuất hiện một lần nữa trên đất nước thân yêu dưới bất kỳ hình thức nào.

Tôi viết bài này trong niềm tưởng nhớ người Chú, người Cậu, những sĩ quan anh dũng của quân lực Việt Nam cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến, những đứa em và bà con xa gần chết trên biển Đông, vì lý tưởng tự do.

*****

Advertisements

Bỏ Thuốc Lá

Xin Cảm ơn TB – Oz BB đã chuyển gửi và cho phép đăng bài này.

TB không thích Quý ông hút thuốc, nhưng nhìn người thanh niên, với điếu thuốc trên tay…, thả hồn theo mây khói, cũng là nguồn cảm hứng trong thơ nhạc…; xin cho tản mạn tí nha…

”Một làn khói trắng
Ru đời vào quên lãng
Nâng sầu thành hơi ấm
Hơ dịu tình đau…”

Có lẽ một trong những động lực đưa đẩy thanh niên ngay xưa tìm đến thuốc lá là những hình tượng rất nghệ sĩ, rất lãng mạn – như lời bài hát của Vũ Thành An trên đây.

Trước đó nữa, là hình ảnh
“nhớ nhà châm điếu thuốc,
khói huyền bay lên cây”

trong bài thơ của Hồ Dzếnh được Dương Thiệu Tước phổ nhạc theo điệu Tango Habanera làm cho điếu thuốc mang thêm chất thi ca. Hồ Dzếnh lại còn thường xuyên mượn điếu thuốc để diễn tả tâm trạng nhân vật:

”Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân
Ngó lên tay thuốc lá cháy lui dần
Anh nói khẽ: “gớm sao mà nhớ thế!”

Nói như vậy không phải để “kết tội” Vũ Thành An, Hồ Dzếnh và Dương Thiệu Tước đã cổ súy cho thuốc lá. Vì thời thế nó là thế!

Sau này  mới nhận ra rằng hút thuốc chỉ cho cảm giác ấm cúng (ấm về tâm lý) chứ không cho ấm áp (ấm về sinh lý).

Nhà văn Mỹ Mark Twain có nói:
“Bỏ thuốc lá rất dễ. Bằng chứng là tôi đã bỏ cả ngàn lần”
”Giving up smoking is the easiest thing in the world. I know because I’ve done it thousands of times.”

Thế đó!  mặc dầu biết hậu quả có thể đưa đến (ung thư, nhồi máu cơ tim…). Nhưng dù sao nhồi máu cơ tim cũng sướng hơn, vì được chết ngay tức khắc chứ không bị nằm liệt giường như tai biến mạch máu não… Hàng ngàn người chết trong tòa tháp đôi WTC có bao nhiêu người hút thuốc lá?

Các bạn chịu khó nghe… ngụy biện chút nhé. Đừng cười, cũng đừng phản đối.

* Thanks NAT với lời tự thú trước bình minh…

Lời nói đầu: Tôi có một người bạn mới quen, chưa giám gọi là thân tình vì chưa có thời gian “chia ngọt xẻ bùi, chia cay xẻ đắng”, nhưng rất đáng mến. Sau lần đầu gặp nhau, chúng tôi đều có một ý nghĩ trong đầu: “Tay này chơi được.” Tuy mới sau ba lần gặp mặt, một hôm anh “phang” tôi một câu: “Tôi thấy anh bỏ phí thời giờ nhiều quá. Anh đi nhiều, biết nhiều, nên viết gì cho anh em đọc đi chớ. Bởi vậy mới có những dòng sau đây để:

Tặng các bạn tôi, những người đã từng thử bỏ thuốc nhiều lần, nhưng không thành công.

Thời thập niên 1960, điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay là món trang sức trong giới nam sinh viên, nhất là những người đang có bồ. Thậm chí có nhiều em bắt chàng phải tập tành hút sách, nếu không muốn bị mang tiếng “cà quỷnh”. Tôi biết có bạn còn được bồ dúi cho bao thuốc thơm, mỗi khi họ gặp nhau dung giăng dung dẻ. Bản thân tôi cũng đã được đặc ân này, mà lại là thuốc lá Mỹ.
Hồi học khoá An Ninh Tình Báo trung cấp, tôi thường ngồi ở dẫy bàn đầu để nghe và nhìn Thiếu tá HLV. Thỉnh thoảng ông ngừng giảng, móc trong túi áo trận ra cái điếu bát nhỏ làm bằng nhựa mầu nâu, chậm rãi vê một bi thuốc, bỏ vào nõ, châm lửa, bập bập vài cái cho lửa cháy đểu rồi lấy hơi rít mạnh. Sau đó, ông “phê”, cặp mắt lờ đờ, từ miệng và mũi thở ra một cụm khói trắng nhạt, và lời giảng cũng “lạng quạng” mất đến một hai phút.
Cũng thỉnh thoảng, từ cuối phòng, bay lên một mùi thuốc thơm nồng. Những lúc như vậy, tôi đều quay xuống cuối lớp và đều thấy Đại úy Ph. ngồi ngay đầu bàn vời điếu thuốc king size kẹp giũa hai ngón tay. Tôi đổi gout và nghiền Pall Mall từ đấy.
Sau tháng 4/75, thời gian đầu trong các trại tù Cộng Sản, cứ mỗi lần nhìn mấy tên cán ngố đi ngang với điếu thuốc trên môi, dù chỉ là Ruby Quân tiếp vụ, nhưng hương thơm vẫn làm mình thèm được một điếu hoặc chỉ một hơi cho đỡ “vã”.
Thời gian sau, thuốc lá trở thành xa xỉ phẩm nên ta quay sang “chơi” thuốc lào. Vào những lúc khốn khó, đói ăn nhất, thuốc lào trở thành vô cùng quý giá, được dùng làm tiêu chuẩn để đổi lấy những bữa ăn, vốn đã chẳng làm thoả mãn cái bao tử…
Thế rồi chúng ta sang Mỹ, được thử cả hơn 20 loại thuốc khác nhau. Nhưng lúc này, hút thuốc không còn là cái mốt thời thượng nữa, mà là nguy cơ đe dọa không những sức khoẻ bản thân mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh. Một số đông đã bỏ thuốc, với sự trợ giúp của Âu dược. Một số bỏ một cái rụp (cold turkey) nhờ ý chí và nghị lực cao. Số còn lại, trong đó có tôi, nại cớ (rất có lý): Cơ thể đã quen với chất Nicotine từ mấy chục năm nay, nếu bỏ thuốc, cơ thể sẽ bị xáo trộn và sẽ ốm đau, bệnh hoạn. Vả lại, nếu số phải chết thì đã chết rồi vì những nghiệt ngã trong nhà tù Cộng Sản.
Nhưng rồi nhìn quanh thấy bạn bè, kể cả những người đồng quan điểm với mình khi trước, dần dần bỏ thuốc, làm mình cũng muốn thử. Ôi, nó khó khăn làm sao! Một giờ mà không có cữ thường lệ, đầu óc và cơ thể sao bị dằn vặt thế này, cứ chạy ra chạy vào, chỉ chực nhẩy lên xe, ra liquor gần nhất mua một gói thuốc. Ông hàng xóm trước kia trong ngành Thẩm phán, khi từ Super market đi ra với hai cây thuốc trong tay. Trên đường ra xe ngoài parking lot, ông ta suy nghĩ và có một quyết định rất táo bạo: “Sao ta lại không thể chấm dứt sự lệ thuộc vào nó như thế này.” Nghĩ xong, anh ta thẳng tay quăng cái túi nylon đựng hai cây thuốc ra thật xa. Trên đường về nhà, anh rất hãnh diện về quyết định và hành động của mình… Nhưng chỉ mới hơn một giờ sau, anh ta lại lái xe ra siêu thị một lần nữa… Điều cắc cớ chính vì anh ta là nhân viên cuả UPAC trong chương trình “cai thuốc lá”…
Mỗi lần thèm thuốc, cứ ngậm một cái kẹo hoặc uống một ngụm nước, theo lời khuyên của vài người bạn. Nhưng cái kẹo vừa tan hết trong miệng, cảm giác “thèm tí khói” lại càng tăng và uống nước nhiều trong ngày làm vòng bụng thêm lớn. Mới chỉ sau hơn hai tuần, đã phải mua hai quần jeans lớn hơn 2 số để mặc đi làm. Từ ngày đó, ăn uống vì ngon miệng nên ăn nhiều hơn làm vòng bụng ngày càng phát triển, đi đứng đã thấy ì ạch  nặng nề… Thế rồi lại hút lại lấy cớ bụng to, đi đứng nặng nề. Rồi đọc báo, coi TV, thấy những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh ung thư và nếu phải làm biopsy, bạn sẽ thấy phổi mình đen sậm mầu dầu hắc chứ không hồng nhuận như người không hút thuốc. Thấy thế cũng sợ, nên lại cố bỏ thuốc. Vòng luẩn quẩn này lập lại cũng cả 5 lần, cho đến một hôm, nhân phải đến anh bạn nhờ châm cứu cái vai cho bớt đau. Được cho biết ý định muốn bỏ thưốc, anh bạn nói: “dễ thôi” và châm vào 4 huyệt trên mỗi vành tai. Trước đó, anh ta cho biết sau khi châm cứu, có người bỏ thuốc, nhưng cũng có người lại hút nhiều hơn trước. Cũng may, đang hút từ 5-6 điếu một ngày, ngày thứ hai chỉ còn 3 điếu, ngày thứ ba chỉ còn một và rồi bỏ hẳn mà trong người không có cảm giác khó chịu.
Hai tháng sau, nhân một lần sang Đức thăm gia đình người chị vợ, chồng bà này là dân chơi thứ thiệt: Cà phê phải là Espresso, rượu phải là Cognac hay vin rouge Macon, thuốc hút phải là thuốc sợi tự vấn bằng tay và dĩ nhiên không đầu lọc. Nhìn cách anh ta vấn thuốc, ngậm hờ vào bờ môi, châm lửa, sao mình thấp đẹp quá, nghệ sĩ quá, thản nhiên tự tại quá và nhất là… thèm quá. Con quỷ cám dỗ ở đâu lại trở về xui tôi vấn điếu thuốc và hơi khói đầu làm tôi vô cùng sảng khoái sau gần một năm bỏ thuốc.
Về lại San Diego, cứ khoảng hơn một tháng, tôi lại ghé liquor mua một cây thuốc… Với các bạn vẫn mạnh dạn tuyên bố: “Tao thề không bao giờ bỏ thuốc,” chuyện kia “nhiều lúc lực bất tòng tâm,” còn mỗi cái thú này sao lại bỏ,” tôi hiểu các bạn đang tự dối lòng đó thôi. Có ai không muốn kéo dài cuộc sống thêm dăm ba năm, để thấy sự trưởng thành cuả các con, các cháu?
Việc bỏ thuốc sẽ làm bạn ăn ngon miệng hơn, hít thở dễ dàng hơn do đó ngủ sâu và ngon giấc hơn.
Thuốc lá thường đi kèm với cà phê và bia, rượu. Có nghị lực và tạm thời bỏ rượu và cà phê, bạn sẽ bỏ được thuốc, sau đó sẽ cà phê, rượu bia cũng không muộn.
Theo kinh nghiệm cá nhân, châm cứu cũng giúp mình nhiều lắm. Nhưng đây mới là bửu bối cuối cùng của tôi khi lẻn ra vườn với điếu thuốc trong tay thì bị đứa cháu gái bắt gặp với lời nói nhẹ nhàng: “You are bad boy, Grand Pa”.
NAT

Người Việt Năm Bờ Oăn

“Người Việt Năm Bờ Oăn”
Chu tất Tiến

Thành thật Cảm ơn Tác giả Chu Tất Tiến đã cho phép đăng bài viết này.
Và cảm ơn Ns đa tài Thanh Bình đã sốt sắng giới thiêu và xin phép Tác giả.

Thật đấy, nói “Người Việt Năm Bờ Oăn” không sai tí nào! Hồi Tư tôi còn ở quê, đọc thư bạn bè, bà con từ Mỹ gửi về, cứ tả oán là “Câm, Què, Đui, Điếc”, không biết nói tiếng Anh là câm, không biết đi xe là què, không biết chữ là đui, không nghe được gì là điếc. Mỹ gọi thì chỉ biết “Dét, Sơ”, lâu lâu nói lộn thành “Nô, Sơ!”, ngoài ra thì vất vả, cực khổ lắm.

Thế nhưng khi qua Mỹ theo diện “hát ô”, thì Tư tôi tá hỏa tam tinh, vì thấy hoàn toàn ngược lại những gì mình nghe khi trước. Người Việt mình, sau 15 năm tái định cư, đã trở thành Năm Bờ Oăn hết rồi! Cứ đi chợ thì biết liền, các bà vô chợ lục tung tất cả trái cây, rau củ của người ta lên mà lựa tan nát, coi cuộc đời cứ như củ khoai ấy. Có những thùng Lê ngon, giá cao, đã để trong hộp đàng hoàng, và dán chữ “Xin đừng lựa”, các ông bà Năm Bờ Oăn cứ tỉnh bơ, nhặt trong chồng hộp ấy, quả nào to nhất, ngon nhất thì cho vào hộp mình, rồi tàn tàn ra tính tiền, để mặc đống quả kém kém chút chút kia nằm tụm năm, tụm ba, ngơ ngác.

Túi cam cũng thế, mặc dù tính tiền theo túi, các bà cũng tháo giây cột miệng túi ra, lựa cho đã rồi cột dây lại, coi như không có gì xẩy ra. Lại còn chỉ cho nhau mánh lựa cam ngon nữa chứ! Lựa trái làm rớt lỏng chỏng dưới đất, thi lấy chân đá vào gầm, đôi khi cũng chả thèm đá cho bẩn chân. Mấy vị mua cá nhờ chợ làm giùm cũng ít khi nói lời cảm ơn với người đã giúp gọt vẩy, rửa ruột. Vài vị khác thì lựa cho đã, đưa người làm rồi bỏ đi luôn, không thèm trở lại. Ra tới quầy tính tiền, thì chả toàn thấy những bộ mặt đưa đám. Không thấy có nụ cười nào cả. Người tính tiền cứ lầm lầm lì lì làm việc, khiến người mua cũng tiếc một lời cám ơn. Chả ai cám ơn ai! Ai cũng Năm bờ Oăn mà!

Bữa hổm, Tư tôi đến chợ Mỹ, đang đứng chờ một chiếc xe ra để đậu xe mình vào, khi chiếc xe trong de ra ngoài rồi, mừng húm đang tính gài số quẹo vô, chợt một chiếc xe khác phóng vèo tới, quẹo gắt một cái, thắng cái két. Tư tôi tức quá, tính “sổ nho chùm” cho bõ ghét, thì thấy cửa xe mở, một bà Năm Bờ Oăn bước xuống, mặc đồ bộ trắng muốt, nhìn thấy rõ đồ đạc bên trong, tay lại cắp cái nón lá! Tư tôi ngồi như trời trồng luôn. Thiệt! Coi nước Mỹ này y hệt cái củ khoai tây..

Mặc áo ngủ đi chợ Mỹ! Lại cắp nón lá đặc trưng của người Việt nữa chứ! Hết biết luôn! Lúc ấy, nếu có ai hỏi tôi là người giống gì, chắc Tư tôi sẽ nói tôi là người Nhật! Không dám nhận cùng giòng giống Tiên Rồng nữa…  Hồi mới sang, Tư tôi còn bị tá hỏa tam tinh khi đang rề rề xe vào chỗ quẹo trái ở Bolsa, thì vù một cái, một chiếc xe cù lũ sỉ ào qua mặt, thắng cái rét trước mặt mình ngay tại chỗ quẹo. Hết hồn hết vía, Tư tôi thắng gấp, bẻ tay lái đâm vào con lươn “ình” một cái, miệng rủa thầm “thằng nào chết bầm” chơi mình, tí nữa thì đụng đít nó, là bảo hiểm tăng.. Sau này, hỏi ra, mới biết đó là trò của mấy trự Năm Bờ Oăn, cứ đi xe cà là tàng, rồi tìm cách cho xe khác đụng đít để ăn tiền bảo hiểm. Vụ này xẩy ra nhiều lắm, làm các hãng bảo hiểm cứ thấy dân Mít bị đụng, nhất là thấy trên xe có mấy trự choai choai, thì điều tra rất kỹ. Nhưng nghe nói, trời không dung cái trò gian lận này, một Tổ Sư chuyên dàn xếp cho bị đụng đã bị một cú quá cỡ thợ mộc, chiếc xe dúm lại như đàn accordion, mấy mạng trên xe về chầu trời hết, nên từ đó, bớt các vụ dàn dựng.

Người ta nói cộng đồng Việt hải ngoại là nơi “gió tanh, mưa máu” đúng thiệt. Cũng vì ai cũng cho mình là nhất thiên hạ, nên mỗi lần bầu bán chức chưởng gì đó, ở bất cứ tiểu bang nào,  là các thứ vũ khí độc hại bay đầy trời. Từ truyền đơn, đến đài phát thanh, đến báo lá cải.. Mấy tên tay sai cộng sản nằm vùng cũng có báo tuần, lợi dụng cơ hội, là nhấy vô ăn có, thế là không gian bị nhiễm độc, người người nhức đầu, mệt mỏi, lánh xa mấy công tác cứu dân, cứu nước. Ai cũng sợ bị dính loại thuốc độc vô hình này, nên các hoạt động cộng đồng dần dần bị thu hẹp ở những nơi làm việc, nhưng điều tréo cẳng ngỗng là các hoạt động ấy lại nở ra tại các phòng tập thể dục gọi là “spa” ở gần Thủ Đô Tị Nạn.

Tại các hồ nước nóng, trong các phòng xông hơi, xông nước, các trự phê bình chính trị cứ ào ào tuôn ra hàng tràng lý luận, gọi mọi người đều là “thằng, con” hết. Vì tiếng Việt bị vặn “volume” hết cỡ, nên người Mỹ từ từ lảng đi, dần dần trong mấy cái “spa” gần Bolsa chỉ thấy các vị Năm Bờ Oăn chiếm đóng. Nhất là tại chỗ máy chạy bộ, người ta đang lẳng lặng đứng chờ tới phiên, thì khi một cái máy vừa trống, một vị nữ lưu phe ta, vèo một cái phóng vô chiếm ngay, rồi nhét nút tai bằng hai cái máy nghe, tỉnh bơ đạp đạp trước mắt tức tối của những người khác. Đã có lần, Tư tôi thấy hai vị cãi lộn, rồi vị đứng dưới kéo giật vị đứng trên té sấp mặt xuống đất. Security phải mời cả hai vị ra ngoài. Mắc cở quá xá chừng! Nghe nói là trong phòng thay đồ, mấy nữ lưu Năm Bờ Oăn cứ tỉnh bơ để đồ thiên nhiên chạy qua chạy lại, í a, í ới và hát ông ổng “Đời tôi cô đơn nên yêu bao nhiêu cũng cô đơn..” làm Mỹ gái chạy tóe khói.

Thời buổi thay đổi, “Lady first”, nên quý bà bây giờ bạo dạn quá. Trong các chương trình khám bệnh sản khoa trên “la-dô”, các bà cứ tưng tửng đưa chuyên phòng the, chuyện… mình ra mà hỏi những câu thật ớn lạnh. Và các bác sĩ cũng phải tỉnh bơ mà cho toa.. nghe rùng mình. Tưởng tượng các chàng trai sồn sồn chưa có vợ, mà nghe đối thoại qua lại về những căn bệnh phụ nữ thế thì chắc.. thà chết già còn hơn lấy vợ. Hãi quá! Không còn “bàn tay năm ngón kiêu sa…dáng huyền tha thướt trong gió chiều…” mà chỉ có hình ảnh người phụ nữ với đủ thứ bệnh đáng sợ! Nhất là lại gặp các bà trong các tiệm bán quần áo, đồ phụ nữ, nghe các bà “Nổ” kinh hoàng. “Tui mà hát thì người ta cứ tưởng Thanh Lan đấy!”, “Giọng tui nghe giống Lệ Thu không, mấy bạn?” Trời đất! Những Thanh Lan, Lệ Thu này, những người có thể mắng chồng trước mặt bạn bè, mà khi đi ăn nhà hàng thì nhồm nhoàm như người đói bẩy ngày, gắp lấy gắp để. Đĩa tôm hùm vừa mang ra, là bà lấy đũa của mình ra khoắng, lật tung đĩa lên mà tìm miếng nạc. Tiệc cưới chưa xong, đã vội kêu “Tu gô đi!” rồi mang về lủng lẳng hai tay mấy gói. Tư tôi đã chứng kiến môt buổi ra mắt sách đau khổ. Tác giả mua sẵn những hộp nhựa, mỗi hộp là một phần cơm nhẹ để trên bàn dài gần cửa. Chương trình chưa xong, tác giả chưa ký sách, thì các vị Năm bờ Oăn đã ẵm nhẹ hết bàn ăn rồi tửng tửng ra xe, trên tay ba bốn bịch.. làm tác giả đứng chới với, vừa cười vừa khóc.

Về nhà hàng cũng đặc biệt hơn người. Có chủ nhà hàng ở gần khu Thủ Đô Tị Nạn thu hết tiền Tip của nhân viên, là những người tị nạn kém may mắn. Có ông chủ nhà hàng tiếp khách bằng khuôn mặt lạnh như tiền, giống như nhà vừa có đám ma, ai hỏi thêm chút rau, chút giá thì tỏ vẻ khó chịu, y hệt mấy tiệm “phở chửi ở Hà Nội”. Đặc biệt nữa là thịt gà trong phở gà ở đây, thay vì để miếng chặt vừa phải như các tiệm khác, lại thái nhỏ, xắt lát như thái thịt bò, trông thấy chán, vậy mà người mình cũng cứ nhẫn nhục đến ăn. Kỳ thiệt đó! Có lẽ ông chủ ở đây cũng là một Năm Bờ Oăn, ai thích ăn đồ của ông thì cứ lại, không cần chiều khách.

Nói về thái độ thân thiện, Tư tôi mới thấy người mình Nhất đủ thứ, coi trời bằng vung thiệt. Có những vị nổi tiếng không thích bắt tay thiên hạ, mà chỉ đưa ra năm trái chuối mềm nhũn, sắp thối cho mình nắm trong khi lại đưa mắt nhìn ra xa, suy tư, không cần nhìn mặt người bắt tay mình…Tư tôi khâm phục quá! Thế mới đúng là Dân Việt Thành Công chứ! Phải có bộ dạng thế mới là Năm Bờ Oăn! Chứ còn bắt tay chặt chẽ thì xuống giá mất!

Chả thế mà trên diễn đàn, đa số các vị gửi bài lên Net, đều coi thiên hạ là những củ khoai ngu ngốc cả. Tha hồ mà bình loạn! Tha hồ mà gọi những vị đã từng lãnh đạo đất nước ngày trước, những nhà văn, nhà thơ khác, những chính trị gia đang tranh đấu cho dân tộc, những sĩ quan cao cấp cũ là “thằng này, thằng nọ”. Ngay cả Tổng Thống Mỹ cũng không thoát khỏi bị goi là “thằng”! Không cần kính trọng ai! Cứ chửi tá lả! Rồi phê bình lịch sử dưới cặp mắt của những anh chị Cầu Ông Lãnh, nghĩa là muốn áp đặt ý kiến của mình vào bất cứ giai đoạn nào, bất cứ nhân vật nào cũng được, ai viết khác ý là đập tơi bời, bằng cả tiếng Đan Mạch nữa!
Thiệt đáng nể cho dân Việt ta trên mọi phương diện! Nhớ lại trong thập niên trước, cả Bolsa tưng bừng cảnh sát đi bố ráp một loạt những ông làm luật, những Lương Y bán thuốc, khám bệnh mà gian lận tiền bảo hiểm, tiền Medical… Có điều là chính phủ vì sợ dân Việt nên vẫn bỏ qua các vị chuyên viên nắn bóp, châm cứu mà tự xưng là Bác Sĩ, dụ ngon dỗ ngọt thiên hạ mua cao đơn hoàn tán, trị bá bệnh luôn! Chỉ mấy viên bột tròn tròn, pha trộn thuốc Tây, mà chữa đủ thứ, từ ung thư đến bao tử, từ cao mỡ đến cao máu, đến đau nhức phong thấp, tim mạch và cả làm đẹp ra nữa. Gần đây, sau vụ Sữa Ong Chúa bị bể, lại có vụ bán “tế bào gốc” để làm đẹp! Rẻ hề! Tuy người nghe đôi khi thắc mắc là lấy đâu ra tế bào gốc nhiều thế và rẻ thế, nhưng có lẽ vì tin rằng người mình luôn Năm Bờ Oăn, nên lại tin theo. Nhất là lại nghe nói chắc chắn rằng “Thuốc này đã được FDA chấp thuận”, nên mua ào ào làm giầu cho mấy Vị Bác Sĩ mà Hải Thượng Lãn Ông cũng có lẽ phải gọi bằng Sư Phụ!

Thôi, thì được thế thì cũng mừng cho dân tộc ta, tiến nhanh, tiến mạnh hơn các sắc dân khác cũng ngụ cư trên đất Mỹ này. Sang sau mà khá hơn người cũ thì đó là điềm tốt. Chúc mừng! Chúc mừng! Chỉ xin một điều là đừng có tiến nhanh lên giai cấp lừa đảo, lưu manh, gạt gẫm đồng hương, gà què ăn quẩn cối xay, thì xấu hổ lây cho cả cộng đồng Việt trên toàn thế giới.

Chu tất Tiến

Thái độ tùy theo Sắc tộc

Thái độ tùy theo Sắc tộc
Tác giả” ANON
Trong một tiệm ăn, khách kêu café, nhà hàng mang tới một ly café trong đó có một con ruồi lớn đang vùng vẫy. Phản ứng của khách tùy theo sác tộc của họ.

Người Nhật:
Lễ độ trả tiền, không đụng tới ly café, chỉ kín đáo ra khỏi tiệm.

Nguòi Anh:
Lạnh lùng chỉ cho chủ tiệm con ruồi trong ly.

Người Pháp:
Phàn nàn, cau có vì ly café làm mất vui, phí một ngày trong 3 tháng nghỉ hè thường niên.

Người Mỹ:
Gọi điện thoại cho luật sư riêng, ra lệnh làm thủ tục kiện tụng, đòi 2 triệu dollars bồi thường thiệt hại tinh thần.

Nguời Đức:
Ðề nghị chủ tiệm thi hành kỷ luật vói nhân viên có lỗi.

Nguòi Ý:
Mọi chuyện sẽ ổn thoả, nếu tiệm không tính tiền café và tiền bữa ăn.

Người Ả Rập Dầu lửa:
Rút ngân phiếu, mua tiệm ăn, đóng cửa, sa thải tất cả nhân viên.

Người Thụy Điển:
Cảnh cáo chủ tiệm không tôn trọng sinh mạng và hạnh phúc của sinh vật.

Người Mễ:
Gạt con ruồi, uống ly café.

Người Tầu:
Uống ly café ừng ực rồi nhậu con ruồi ngon lành, hỏi chủ tiệm cách dụ ruồi vào nhà bếp.

Người Do Thái:
Dụ bán con ruồi cho nguòi Tầu, bán ly café cho người Mễ, kiện chủ tiệm và nghiệp đoàn tiệm ăn về tội kỳ thị Do thái…

Câu chuyện không đề cập đến nguòi Việt nam, có lẽ vì thiên hạ nghĩ người Việt cũng là nguời Tầu. Nhưng theo bạn, phản ứng của ông khách An Nam sẽ như thế nào?
Theo thiển ý, ông ta sẽ la lối, hạch sách om xòm nếu chủ tiệm là nguời đồng huơng, sẽ nín khe nếu chủ tiệm là nguời Mỹ hay người Pháp.
Nếu chuyện xẩy ra ỏ Hà Nộì, thủ đô văn hóa của CHXNCN-VN, ông khách sẽ phát biểu ý kiến một cách “tế nhị”:
“ĐM… làm ăn như vậy mà không sợ mất kháchhả?
Và ông chủ, hay bà chủ, sẽ “lịch sự” trả lời:
“ĐM… Không uống thì trả tiền rồi cút đi cho khuất mắt. Có biết tiệm này của ai không? Ông mà ới một tiếng là đi tù rục xương. Sống không muốn, muốn chết hả?”
ANON

Lần đầu hát lại Quốc Ca

Lần đầu hát lại Quốc Ca
Tác giả: Vương Hồng-Ngọc

Nầy công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống
Vì tương lai Quốc dân, cùng xông pha khói tên
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền

Công dân ơi mau hiến thân dưới cờ
Công dân ơi mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá
Vẻ vang nòi giống
Xứng danh ngàn năm giòng giống Lạc Hồng

“Quốc ca Việt Nam” là bài nhạc mở đầu cho một cuốn băng những bản hùng ca thời chiến. Tôi thường tìm đến băng nhạc này mỗi khi lòng xôn xao nhớ về quê hương và những ngày xưa yêu dấu. Trong lời ca điệu nhạc đầy hùng khí như vẫn còn vang dội những bước chân hiên ngang, nhịp nhàng, dáng dấp kiêu hùng của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng của thời đại chúng tôi. Băng nhạc này do một cựu Đại tá Việt Nam Cộng Hoà đã tìm thâu lại những bản nhạc của Cục Chính Huấn và gửi tặng, khi ông biết tôi rất nhớ những bản hùng ca ngày cũ. Đã bao nhiêu năm rồi, tôi vẫn giữ gìn nó như một món quà quí, và đã sang lại thêm băng thứ hai để cất giữ, phòng khi băng hư hoặc lạc mất.
Sống trên quê hương mới, thỉnh thoảng đi dự những buổi lễ hay những buổi họp mặt cộng đồng của người Việt, tôi có dịp hát lại bài Quốc Ca Việt Nam. Mỗi lần cất tiếng hát, trong cảnh trang nghiêm của lá cờ vàng ba sọc đỏ, lòng tôi lại rưng niềm cảm xúc. Bài hát này tôi đã hát biết bao lần, dưới lá cờ thiêng liêng trên đất nước mình, từ thuở bé thơ khi chưa hiểu đủ nghĩa lời ca, cho đến dài theo tháng năm của tuổi lớn lên, vào đời, mà mỗi khi hát, nghe mỗi lời ca rộn ràng xao động từ trong tâm thức. Từ khi Sài Gòn bị đổi tên, bài Quốc Ca Việt Nam không còn được hát nữa. Gần mười năm sau cuộc đổi đời, với bao cố gắng miệt mài theo đuổi mục đích chính của mình, cuối cùng tôi cũng đã đến được bến bờ tự do. Và nơi đây, trong trại tị nạn trên đất Thái, lần đầu tôi đã hát lại bài quốc ca Việt Nam dưới lá cờ vàng với những dòng nước mắt trong niềm cảm xúc dạt dào…
Rồi cái ngày mà chúng tôi trông đợi cũng đã đến. Mười giờ sáng, tất cả khoảng chín mươi người, đươc tập trung lại, hàng một, nối đuôi nhau đứng dài sau cổng trại. Đây là trại chuyển tiếp thứ hai của nhóm chúng tôi, nơi dành cho những người vượt biển, đã không may tắp vào đất Thái. Nắng tháng ba trong vắt, sóng biển nhấp nhô theo làn gió nhẹ, mây trời cùng sóng nước xanh ngắt một màu. Mặt biển SongKhla sáng nay mang đầy vẻ bình yên, hiền hòa, không mang sắc nét của biển trong những ngày thiên nhiên giao động, trở mình. Nhưng cũng đâu biết được, có thể bên sâu dưới mặt nước êm đềm kia, đang có những đợt sóng ngầm mạnh mẽ, chờ đợi thời khắc để thả tung niềm phẩn nộ.
Trên bờ biển này, nơi tảng đá kia, hơn một tháng nay, tôi vẫn thường ngồi đó, chờ mặt trời lên mỗi sớm mai, ngắm buổi chiều tàn khi vầng dương dần chìm bên kia đỉnh núi. Đó là hạnh phúc nhỏ nhoi của tôi trong những ngày dài chờ đợi nơi đây. Lòng chợt nghe bùi ngùi cảm xúc, khi nghĩ đến lúc phải chia tay với nơi chốn tạm dừng chân này, dù chỉ hơn một tháng trời ngắn ngủi.
Hai nhân viên người Thái, súng lủng lẳng bên hông, cẩn thận kiểm điểm lại số người, ra hiệu cho chúng tôi tiến về bốn chiếc xe GMC chờ sẳn.  Tôi đảo mắt thêm một vòng, ngắm vội thêm phút cuối cái đẹp thơ mộng trên bờ biển này, một trại chuyển tiếp trên bước đường tị nạn của tôi.  Xa xa, mấy thân dừa lả ngọn, đong đưa những cành lá xanh mướt như vẫy chào chia biệt.
Chỗ ngồi đã ổn định, tấm bạt sau xe được kéo xuống, đoàn xe chuyển bánh. Ngồi trong chiếc xe phủ kín khiến tôi liên tưởng đến những đoàn xe GMC, Motovah, tải đưa những người lính thất trận của Việt Nam Cộng Hoà, di chuyển đến các trại tù trên quê hương mình sau khi nước nhà thống nhất.
Xe chạy khá lâu, dằn xốc trên những đoạn đường gập ghềnh sỏi đá, chợt giảm tốc độ, chậm lại rồi dừng hẳn. Bốn nhân viên Thái có nhiệm vụ chuyển người, nhảy xuống trước. Họ nói chuyện lao xao bằng ngôn ngữ riêng. Chừng mười lăm phút sau, tấm bạt phủ sau xe được kéo lên.  Chúng tôi lần lượt xuống xe, xếp hàng một, trước một cổng sắt thật lớn. Thủ tục giao và nhận người vừa xong thì trời đã xế chiều nên chúng tôi không có dịp nhìn ngắm cảnh vật chung quanh. Tuy nhiên quang cảnh con đường mòn vắng vẻ dẫn vào đây cho thấy sự biệt lập của nơi chốn này. Chúng tôi lần lượt đi qua chiếc cổng. Sự kiên cố và lớn lao của nó gây cho tôi cái cảm giác sợ hãi về đời sống tù nhân và sự giam cầm.
Ánh sáng đầu ngày đánh thức mọi người. Sau khoảng ba tiếng đồng hồ chợp mắt, tôi đã nghe mình tỉnh táo hơn. Người đại diện khu nhà tôi ở, đến dặn dò chỉ dẫn về giờ giấc và những sinh hoạt trong ngày. Buổi sáng trước giờ chào cờ là thì giờ cho mọi người quét dọn, làm vệ sinh quanh trại. Mỗi ngày hai buổi, 8 giờ sáng và 5 giờ chiều, cả trại phải đứng xếp hàng trước khu nhà của mình để chào cờ Thái. Loa phóng thanh kêu gọi tập họp chào cờ trước mười lăm phút. Nhân viên Thái giữ trật tự trại có nhiệm vụ tuần tra, với chiếc roi trên tay, đi kiểm soát quanh các dãy nhà, nơi vệ-sinh, v.v… Thật không may cho những ai bị bắt gặp còn lảng vảng đâu đó trong giờ này. Trong giờ khắc chuẩn bị chào cờ, nhìn sự trống vắng trên các con đường đi lại, sự yên lặng hoàn toàn trong sân, từng dãy người xếp ngay hàng thẳng lối, người ta có thể liên tưởng đến cái kỷ luật ở sân trường quân đội. Tôi đã nghe kể lại nhiều câu chuyện và cũng đã chứng kiến nhiều hình phạt của những trường hợp vi phạm kỷ luật trại tại đây. Hình phạt được áp dụng như cạo đầu, treo tay, cho đứng ngoài nắng đến ngất xỉu, bị quất bằng roi cá đuối, v.v…
Tôi thấy thương và nghe xót xa cho thân phận người mình. Những người đến được nơi này, bằng những con tàu mỏng manh trên biển cả, hay bằng đôi chân máu chảy lặn lội qua bao cánh rừng sâu, họ đã trải qua biết bao hiểm nguy, đối diện với sống chết, đói khát, cướp bóc và hãm hiếp. Giờ đây họ còn bị người Thái đối xử như tù nhân trong các trại tị nạn khốn khổ này.  Còn những gian nan nào nữa tôi chưa đươc biết của gần hai triệu người dân Việt đã xả thân đi tìm TỰ DO?! Ôi dân tộc tôi, những người dân khốn khổ của một nước nhược tiểu, đã phải chiến đấu triền miên với đói nghèo, chiến tranh và tang tóc. Giờ đây khi nước nhà thống nhất, người dân tôi không được hưởng thái bình. Chúng tôi đang phải tuôn ra biển, trốn vào rừng sâu, đi vào cái chết để tìm sự sống, một đời sống tự do, nhân bản.
Trong thời gian trại đóng cửa, không nhận thêm người, cũng không giải quyết cho người đi, dân tị nạn biết mình sẽ phải ở đây lâu nên đã tranh đấu xin mở trường ốc trong trại, để con em họ có nơi chốn học hành. Nhóm đại diện trại đã bằng nhiều cách, thuyết phục được vị trưởng trại về đề nghị này, và ngôi trường đã được thành hình vài năm trước. Trường mở rộng thêm lớp, đủ cho hai buổi sáng chiều. Sau vài ngày nhập trại, biết được có trường sở, tôi đã liên lac với người có trách nhiệm để xin một chân dạy thiện nguyện. Hai tuần lễ sau, tôi được thông báo đến nhận lớp. Trường lớp được xây cất đơn sơ với cột kèo bằng tre, lá. Giờ chào cờ sáng chiều của trường cũng cùng giờ chào cờ của trại. Tôi xúc động biết bao khi biết được mỗi ngày thứ hai, sau phần chào cờ Thái còn có thêm phần chào cờ Việt. Được kể trước đây, nhóm đại diện trường phối hợp với đại diện trại của người mình, đã khổ công tranh đấu với người Thái ở đây, để xin được phần danh dự chào lá quốc kỳ của Việt Nam Cộng Hoà trong trường học. Đây là một thành tích đáng kể của cộng đồng người Việt tị nạn của trại trong thời điểm này.
Trong sân trường của trại tị nạn Sikiew, buổi sáng tháng tư, nắng trong vàng màu lụa mới, mang đầy nét bình yên của một nơi chốn không chiến tranh. Trên hai trụ cờ, lá cờ của đất nước Thái và lá cờ vàng ba sọc của VNCH đang nhẹ bay trong gió. Nhìn lá cờ với màu sắc thân quen ngày nào đang tung bay trên một đất nước không phải là quê hương mình, tôi bỗng nghe lòng mình nao nao sóng vỡ. Trên lá cờ như ẩn hiện những hình ảnh của một chiến trường đẫm máu, thân thể những người lính ngã gục với những vết thương máu chưa kịp chảy. Hình ảnh những người lính, âm thầm, từng đêm, tay ghì súng, mắt không rời bóng tối, để giữ gìn từng tấc đất cho quê hương. Đâu đây như có tiếng kèn tử sĩ thê lương, bên hình ảnh người quả phụ, đầu phủ tang trắng bên mộ huyệt, đưa tay nhận lá cờ được xếp lại ngay ngắn từ nắp quan tài của người chồng vừa tử trận. Và đứa trẻ thơ đầu chít khăn tang, ngơ ngác nhìn chiếc quan tài đựng xác người cha, đang từ từ được phủ đầy đất mà chưa đủ trí khôn để hỏi tại sao! Tôi thấy thấp thoáng hình ảnh những người lính trận, mặt đầy hào khí, đang dựng lại ngọn cờ trên cổ thành Quảng-Trị năm nào khi vùng đất nầy được tái chiếm. Như đâu đây vẫn còn âm vọng bi thương của những tiếng đạn cuối cùng từ những đứa con tổ quốc, chọn cái chết bên cạnh lá cờ, trong lòng đất mẹ trước cơn hồng thuỷ. Biết bao xương máu đã đổ ra, biết bao hệ luỵ kéo theo, biết bao cuộc đời đã nằm xuống để giữ vững màu cờ, sao giờ đây lá cờ đang tung bay ở một nơi chốn không phải trên quê hương đất mẹ!
Bài quốc ca Thái từ loa phóng thanh vừa dứt. Một giọng ca cất lên bắt nhịp cho bài quốc ca Việt Nam:
“Nầy công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi…”.
Tôi cất giọng hát lớn theo. Những lời ca bỗng trở nên quá thân thương, quá ngọt ngào, quá hùng tráng! Những lời ca đang trên môi miệng tôi bỗng trở nên ấm, nồng. Cảm xúc trong tôi chợt dâng lên, oà vỡ, thành những giòng lệ chảy dài trên môi má. Ôi những lời ca mà tôi tưởng chừng không bao giờ được hát nữa!. Trong tôi man mác cái cảm giác của sự trở về, gặp lại người thân đã ngỡ như xa rời vĩnh viễn. Tôi nghe mình nấc lên theo tiếng ca, tiếng nấc tức tưởi trong trạng thái vui mừng lẫn tủi thân của một trẻ thơ lạc mẹ vừa được tìm về. Nhìn màu sắc thân quen của màu cờ, tôi nghe lại một chút an ổn và niềm hy vọng. Trên đường lưu vong lạc loài nơi đất khách, tôi đã mang theo được trong tôi cả cái quê hương khốn khổ tội tình. Hồn thiêng sông núi, anh linh của những người đã nằm xuống cho hai chữ TỰ DO, như đang quyện lấy chúng tôi và lá cờ vàng ba sọc đang tung bay ngạo nghễ.

Quốc ca quyện lấy cờ vàng
Đường lưu vong vẫn ngập tràn hồn quê

Vương Hồng-Ngọc