Archive for February, 2015

Lễ tưởng niệm Hoàng Sa trên Biển Đông 2015

Tổ Quốc Ghi Công
Lễ tưởng niệm Hoàng Sa trên Biển Đông 2015

Advertisements

Bệnh Alzheimer

Alzheimer02

Source: http://www.hopkinsmedicine.org/healthlibrary

< http://www.google.com.au/imgres?imgurl=http://www.hopkinsmedicine.org/healthlibrary/GetImage.aspx%253FImageId%253D161357&imgrefurl=http://www.hopkinsmedicine.org/healthlibrary/conditions/nervous_system_disorders/alzheimers_disease_85,P00772/&h=500&w=530&tbnid=JzkK_TTnQvNa0M:&zoom=1&docid=dOiEfVOKUs7w0M&ei=RjrcVICKLOSOmwWtq4HgCA&tbm=isch&ved=0CH4QMyhCMEI >

Xưa nay người ta thường sợ mắc bệnh ung thư, bệnh tim mạch, cơn tim cấp (heart attack), đột quỵ (stroke), và sợ vướng phải tai nạn. Gần đây, qua sách báo, radio và Internet, nhiều người đã tìm hiểu và quan tâm khá nhiều về bệnh Alzheimer.
Sau đây một số đặc điểm đáng chú ý của bệnh Alzheimer sẽ được bàn đến; cụ thể như các triệu chứng và dấu hiệu, các xét nghiệm cần làm, các cách điều trị, tiên lượng bệnh Alzheimer, và 5 bước để giảm nguy cơ mắc bệnh này.

Bệnh Alzheimer là một dạng thường gặp của nhóm bệnh mang tên Dementia [ có người dịch là “bệnh mất trí”, người khác gọi là “bệnh lú lẫn” ]
Bệnh Alzheimer được phát hiện năm 1901.
Trong năm 1901 này, khi ông làm việc tại một viện tâm thần ở thành phố Frankfurt, Đức, Bác sĩ Alzheimer đã có một bệnh nhân 51 tuổi được gọi là bà Auguste Deter. Bệnh nhân này có triệu chứng đặc biệt khác với nhiều chẩn đoán hiện có thời ấy: Bà A. Deter đã nhanh chóng mất trí nhớ, mất phương hướng, lú lẫn, đã gặp khó khăn bày tỏ suy nghĩ của mình, và nghi ngờ về các thành viên trong gia đình của mình và nhân viên bệnh viện. Triệu chứng của bà ấy đã tăng nặng thêm không ngừng. Bác sĩ  Alzheimer viết rằng bà ấy đã từng nói với ông rằng: “Tôi đã đánh mất chính mình.”
Trong những năm sau đó bà Auguste Deter đã chiếm nhiều hơn nữa thời gian của Bác sĩ Alzheimer, đến mức gần như trở thành một nỗi ám ảnh đối với Ông ta. Bà A. Deter đã chết vào năm 1906. Bác sĩ Alzheimer và những người đang làm việc tại phòng thí nghiệm Kraepelin ở Munich, đã có hồ sơ bệnh nhân và bộ não của bà ấy gửi đến đó.
Cùng với hai bác sĩ người Ý, Bác sĩ Alzheimer thực hiện khám nghiệm tử thi. Và việc khám nghiệm tử thi cho thấy não của bà Deter đã teo lại đáng kể, nhưng không có bằng chứng của xơ vữa động mạch. Ông đã sử dụng một kỹ thuật nhuộm màu của một đồng nghiệp cũ Franz Nissl và đã xác định được các mảng amyloid và đám rối neurofribrillary trong não; đây là hai điểm nổi bật của căn bệnh này.
Trong tháng mười một, 1906 Bs Alzheimer cho các bài giảng đầu tiên mà trình bày các tổn thương bệnh lý và các triệu chứng lâm sàng của bệnh. Bệnh mất trí này lúc ấy còn gọi là presenile dementia. Kraepelin bắt đầu sử dụng tên bệnh Alzheimer, và từ năm 1911 tên này được sử dụng trên khắp Châu Âu và các bác sĩ gốc châu âu khi họ chẩn đoán loại bệnh này ở Mỹ.

Sau đó, y học đã ghi nhận rằng bệnh Alzheimer là một dạng phổ biến nhất của bệnh mất trí. Y học còn cho biết bệnh này không chỉ gây tác hại trên riêng một nhóm người nào đặc biệt .
Dạng phổ biến thứ hai của chứng mất trí là “sa sút trí tuệ do mạch máu”, và nguy cơ cửa loại này tăng lên do huyết áp cao, cholesterol lên, hút thuốc và uống rượu quá mức. Dạng thứ ba là loại do thể Lewy (Lewybodies [DLB] là một protein đặc biệt có hại cho tế bào thần kinh trong não. Ngoài ra còn có dạng hổn hợp gồm 2 trong các dạng vừa nêu.

Đặc biệt căn bản của riêng bệnh Alzheimer là sự thương tổn không ngừng của các tế bào thần kinh và các kết nối của chính các tế bào thần kinh. Hậu quả của các tổn thương này lên cấu trúc của hệ thần kinh là cả một chuổi tàn phá như mất trí nhớ, suy giảm tư duy, khó khăn trong việc giao tiếp bằng lời nói, và thậm chí thay đổi bản tính của người bệnh.

Chi tiết hơn, Triệu chứng của bệnh Alzheimer
Các triệu chứng của bệnh Alzheimer thường tiến triển từ từ trong nhiều năm. Chúng thường là tương đương với các bệnh khác, và lúc đầu có thể được gán cho tuổi già.

Nhịp độ tiến triển của các triệu chứng cũng khác nhau đối với từng cá nhân; không ai có thể dự đoán chính xác làm sao mà nhịp tiến triển có thể nhanh chóng thành tồi tệ hơn.

Trong vài trường hợp, sự nhiễm trùng hoặc sự dùng một vài loại thuốc có thể làm các triệu chứng nặng thêm. Vì vậy, khi đang có bệnh Alzheimer mà triệu chứng lại nhanh chóng trở nặng, người bệnh nên được khám bởi một bác sĩ để các nguyên nhân này có thể được loại trừ.

Các giai đoạn của bệnh Alzheimer
Nói chung, các triệu chứng của bệnh Alzheimer được chia thành ba giai đoạn chính.

1. Các triệu chứng sớm
Trong giai đoạn đầu, các triệu chứng chính của bệnh Alzheimer là trí nhớ mất hiệu lực. Ví dụ, một người mắc bệnh Alzheimer sớm có các tình trạng như:
quên về cuộc trò chuyện gần đây, hoặc quên các sự kiện
quên tên của địa điểm và đối tượng
lặp đi lặp lại thường xuyên, chẳng hạn như hỏi cùng một câu hỏi nhiều lần
kém khả năng phán xét, hoặc thấy khó khăn hơn khi đưa ra quyết định
trở nên không còn sẵn sàng để thử những điều mới lạ, hoặc không còn sẵn sàng để thích ứng với thay đổi.
Cũng có thể có một số dấu hiệu sớm của sự thay đổi tâm tính, chẳng hạn như tăng lo lắng hoặc kích động, hoặc có những giai đoạn lú lẫn.

2. Triệu chứng ở giai đoạn giữa
Khi bệnh Alzheimer tăng phát triển, vấn đề về trí nhớ sẽ trở nên tồi tệ, và bệnh nhân có thể thấy ngày càng khó khăn để ghi nhớ tên của những người mà họ biết và có thể phải khó khăn để nhận ra thân quyến hoặc bạn bè của họ.
Các triệu chứng khác cũng có thể lộ ra; chẳng hạn như:
có sự tăng nhầm lẫn và mất phương hướng – ví dụ, không biết họ đang ở đâu, rời nhà ra đi, và đi lạc mất
có hành vi như bị ám ảnh, lặp đi lặp lại hay bốc đồng
có ảo tưởng (tin điều đó là không đúng sự thật)
có vấn đề trong lời nói hoặc cách phát ngôn (chứng “mất ngôn ngữ” aphasia)
có giấc ngủ bị quấy rầy
có những thay đổi trong tâm trạng, như thay đổi tâm trạng thường xuyên, trầm cảm và cảm thấy ngày càng lo lắng, thất vọng hay buồn bã
có khó khăn trong cảm nhận về không gian, chẳng hạn như đánh giá khoảng cách, mặt người hay vật
có vấn đề về thị lực, như thị lực kém đi hoặc có ảo giác (nhìn thấy những điều không có).
Vào giai đoạn này, người mắc bệnh Alzheimer sẽ thường cần hỗ trợ để giúp họ trong cuộc sống hàng ngày của họ. Ví dụ, họ có thể cần giúp đỡ khi ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo và đi vệ sinh.

3. Những triệu chứng trong giai đoạn cuối
Trong giai đoạn cuối của bệnh Alzheimer, các triệu chứng trở nên ngày càng nghiêm trọng và đau buồn cho những người mắc bệnh, cũng như những người chăm sóc, bạn bè và gia đình.
Ảo giác và hoang tưởng thường sẽ trở nên tồi tệ hơn và những người có điều kiện có thể bắt đầu trở nên hung bạo, lắm đòi hỏi và hay nghi ngờ đối với những người xung quanh.
Một số triệu chứng khác cũng có thể phát hiện khi bệnh Alzheimer nặng thêm; chẳng hạn như:
khi ăn uống khó khăn và khi nuốt (khó nuốt)
khó khăn trong việc thay đổi vị trí hoặc di chuyển xung quanh mà không được hỗ trợ
giảm cân đáng kể (mặc dù cũng có một số người ăn quá nhiều và tăng cân)
không tự chủ trong việc thải nước tiểu (tiểu không tự chủ) hoặc thải phân (đi tiêu tiểu không tự chủ)
khả năng nói mất dần
có vấn đề đáng kể với trí nhớ ngắn hạn lẫn dài hạn
Trong giai đoạn nặng của bệnh Alzheimer, người bệnh thường bắt đầu bỏ bê vệ sinh cá nhân của họ. Ở giai đoạn này hầu hết những người có bệnh Alzheimer sẽ cần được sự chăm sóc toàn thời gian bởi vì họ sẽ tự làm được rất ít cho chính họ.

Nguyên nhân của bệnh Alzheimer
Bệnh Alzheimer là do các bộ phận của não lãng phí đi (teo), mà thiệt hại cấu trúc của não bộ và làm thế nào nó hoạt động.
Người ta không biết chính xác những gì gây ra quá trình này bắt đầu, mặc dù những người mắc bệnh Alzheimer đã được tìm thấy có một lượng bất thường của protein (mảng amyloid), sợi (đám rối tau [tau tangles => https://www.google.com.au/search?q=tau+tangles&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ei=dMbbVNzhEOW7mQW22IHICQ&ved=0CDEQsAQ&biw=704&bih=305%5D) và một hóa chất gọi là acetylcholine trong não.
Các thay đổi về thành phần cấu trúc này làm giảm hiệu quả của các tế bào thần kinh khỏe mạnh (tế bào thần kinh mang lệnh đến và đi từ não), và dần dần phá hủy chúng.
Theo thời gian, các tổn thương bệnh lý này lan tới một số khu vực của não bộ, chẳng hạn như chất xám (chịu trách nhiệm xử lý những suy nghĩ) và vùng hippocampus (chịu trách nhiệm cho bộ nhớ).

Nguy cơ gia tăng
Mặc dù vẫn chưa biết rõ nguyên nhân sâu xa nào gây nên bệnh Alzheimer, một số yếu tố được biết là những yếu tố có khả năng làm tăng nguy cơ phát triển bệnh này.
tuổi
1. Bệnh mất trí và tuổi đời
Với mỗi thập niên trôi qua, người ta sống lâu hơn; và những bệnh của tuổi già ngày càng trở nên một mối lo. Tuy nhiên, bệnh mất trí không phải là bệnh mà người cao niên không thể tránh khỏi. Thật vậy, có đến 19 người trong số 20 người trên 65 tuổi và 4 người trong số 5 người trên 80 tuổi không bị mắc bệnh mất trí.
Tuổi tác là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của bệnh Alzheimer. Khả năng phát triển bệnh này tăng gấp đôi mỗi năm năm sau khi bạn đạt đến 65 tuổi.
Tuy nhiên, không chỉ những người lớn tuổi là những người có nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer. Khoảng 1 trong 20 người bị bệnh này là dưới 65. Điều này được gọi là dạng khởi phát sớm của bệnh Alzheimer; và dạng có thể tác hại cho người từ khắp nơi trên 40 tuổi.
2. Tiền sử gia đình
Các gen bạn thừa hưởng từ cha mẹ của bạn có thể đóng góp vào nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer; dù vậy, mức tăng thực tế về rủi ro rất nhỏ nếu bạn có một thành viên trong gia đình mang bệnh Alzheimer này.
Tuy nhiên, trong một vài gia đình, bệnh Alzheimer là do thừa kế của một gen duy nhất, thì những rủi ro của tình trạng này được di truyền tiếp sẽ ngày càng cao hơn.
Nếu một số thành viên trong gia đình của bạn đã phát bệnh mất trí qua nhiều thế hệ, bạn nên tìm kiếm sự tư vấn di truyền cho các thông tin và tư vấn về nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer khi bạn nhiều tuổi hơn.
Website của các Hội Alzheimer thường có thêm thông tin về di truyền và bệnh mất trí.
3. Hội chứng Down
Những người bị hội chứng Down có nguy cơ cao phát triển bệnh Alzheimer.
Điều này là do lỗi gene gây ra hội chứng Down cũng có thể gây ra những mảng amyloid tích tụ trong não và theo thời gian, có thể dẫn đến bệnh Alzheimer ở một số người.
4. Whiplash và chấn thương ở đầu
Những người đã bị chấn thương đầu nghiêm trọng hoặc whiplash nặng (chấn thương cổ do một chuyển động đột ngột của đầu) đã được nhìn nhận là có nguy cơ cao làm phát triển bệnh Alzheimer.
5. Bệnh tim mạch
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng một số yếu tố lối sống và 
một số bệnh liên quan đến tim mạch cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.
Chúng bao gồm:
hút thuốc
béo phì
bệnh tiểu đường
huyết áp cao
cholesterol cao
Bạn có thể giúp làm giảm nguy cơ của bạn bằng cách ngăn chặn hút thuốc nếu bạn hút thuốc, ăn một chế độ ăn uống cân bằng lành mạnh, và có kiểm tra sức khỏe thường xuyên khi bạn già đi. Nó cũng rất quan trọng để giữ cho hoạt động tích cực nhất có thể, cả về tinh thần và thể chất, giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.

Xét nghiệm hay Test cần làm
Để loại trừ các nguyên nhân khác có thể gây nên các triệu chứng của người bệnh và để tìm kiếm những dấu hiệu có thể của các thương tổi gây ra bởi bệnh Alzheimer, các chuyên gia có thể khuyên người bệnh nên làm một Scan [quét] ở não. Đây có thể là:
Chụp cắt lớp vi tính (CT scan), tức là làm một số X-quang của bộ não của bạn được chụp ở góc độ hơi khác nhau và một máy vi tính được sử dụng để ghép các hình ảnh với nhau khi đọc.
Chụp cộng hưởng từ (MRI), tức là dùng một sóng từ trường và máy phát sóng mạnh để tạo ra hình ảnh chi tiết của các phầm bên trong bộ não.

Một loạt các xét nghiệm chẩn đoán và thủ tục khác cũng có thể cần khi chẩn đoán bệnh mất trí nhớ. Sau đây là những thủ tục thông dụng nhất.
Đánh giá khả năng tâm thần để chẩn đoán bệnh mất trí nhớ.
Bảng câu hỏi thường được sử dụng để giúp kiểm tra các khả năng tâm thần của người có triệu chứng của bệnh mất trí, và mức độ nghiêm trọng của chúng. Một thử nghiệm được sử dụng rộng rãi là việc kiểm tra trạng thái tinh thần mini (MMSE). Các MMSE đánh giá một số khả năng tâm thần khác nhau, bao gồm:
bộ nhớ ngắn hạn và dài hạn
khoảng hay tầm mức chú ý
sự tập trung
ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp
khả năng lập kế hoạch
khả năng hiểu các hướng dẫn

Các MMSE là một loạt các bài tập, mỗi lần mang một số điểm với tối đa là 30 điểm. Bài tập ví dụ bao gồm:
ghi nhớ một danh sách ngắn của các đối tượng và sau đó lặp lại danh sách
viết một câu ngắn mà là đúng ngữ pháp, chẳng hạn như “con chó ngồi trên sàn nhà”
trả lời các câu hỏi một cách chính xác về thời gian định hướng, chẳng hạn như xác định các ngày trong tuần, ngày hoặc năm

Các MMSE không phải là một thử nghiệm để chẩn đoán bệnh mất trí nhớ. Tuy nhiên, nó rất hữu ích để đánh giá mức độ suy giảm tinh thần mà một người bị mất trí nhớ có thể có.

Về các test này, điều đáng chú ý là:
Điểm đạt được qua các test này có thể bị ảnh hưởng bởi trình độ học vấn của từng người bệnh. Ví dụ, một người không thể đọc hay viết rất có thể có một số điểm thấp hơn, nhưng họ có thể không có sa sút trí tuệ. Tương tự như vậy, một người có trình độ học vấn cao hơn có thể đạt được một điểm số cao hơn nhưng vẫn có sa sút trí tuệ.

Xét nghiệm máu cho bệnh mất trí nhớ
Một người bị nghi ngờ mất trí có thể làm xét nghiệm máu để kiểm tra mức độ tổng thể của họ về sức khỏe và để phân biệt với các bệnh khác có thể gây các triệu chứng của họ, chẳng hạn như kích thích tố tuyến giáp và vitamin B12.

Các thủ tục Scan khác
Các loại Scan, chẳng hạn như SPECT (đơn photon phát xạ tính toán cắt lớp), PET scan (tức là scan hoặc chụp cắt lớp phát xạ positron), cũng có thể được đề nghị nếu kết quả của CT hoặc MRI tỏ ra không chắc chắn. Những loại scan này có thể cho biết thêm vể các chức năng của não và có thể nhận ra các bất thường về lưu lượng máu trong não.
Trong một số trường hợp khác, một là điện não đồ (EEG) cũng có thể được thực hiện để ghi lại tín hiệu về điện [“điện động”] của não khi não hoạt động.
Việc làm chọc dò tủy sống cũng có thể được sử dụng để kiểm tra mức độ protein trong não. Thủ tục này liên quan đến việc lấy mẫu của ‘dịch não tủy’ từ phía sau cột sống lưng để thử nghiệm.

Điều trị bệnh Alzheimer
Các nguyên tắc chung của điều trị bệnh Alzheimer là nhằm tối đa hóa các phẩm chất trong cuộc sống của người bệnh, tăng khả năng tự quyết và khả năng hoạch định của họ, giữ vững tính độc lập cho họ, trì hoãn việc phải vào dưỡng trí viện, và giảm bớt gánh nặng cho những người chăm sóc.
Việc điều trị đầu tiên nên tập trung vào việc tối ưu hóa chức năng sức khỏe cả vật lý lẫn tâm thần. Điều này liên quan đến việc điều trị các bệnh cùng tồn tại và nguy cơ tim mạch mạch.
Thuốc an thần không cần thiết và thuốc ngủ nên tránh vì chúng có thể làm người bệnh thêm đờ đẫn, gây kích động nghịch lý, hoặc tồi tệ hơn cả sự suy sụp về nhận thức, thái độ và hành vi.
Các phương pháp dinh dưỡng, bao gồm cả các chất bổ sung, cần được cứu xét và áp dụng.
Các liệu pháp về bệnh tâm thần, cũng như cả tập tinh thần và thể chất cần được xem xét.

Việc trị liệu của bệnh mất trí Alzheimer tiếp theo nên tập trung vào việc giáo dục và hỗ trợ thiết yếu cho bệnh nhân, gia đình, và người chăm sóc. Đào tạo người chăm sóc là tìm ra những dấu hiệu và triệu chứng của cả hai tiến triển của bệnh và những cơn trầm cảm.

Thuốc dùng để điều trị bệnh mất trí Alzheimer.
Nói chung, điều trị với các thuốc trong 2 nhóm chính.
1. acetyl-cholinesterase (AChEIs) [Aricept, thuốc viên 5mg/đêm; Exelon, thuốc viên, thuốc nước, hay thuốc dán lên da, 1-3  lần/ngày] và
2. memantine [EBIXA, thuốc viên 5mg/đêm]
Các loại thuốc này dẫn đến một sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong các mặt nhận thức, và qua sự đánh giá toàn cầu, nhưng tầm quan trọng lâm sàng của sự cải thiện này chưa được mọi chuyên gia đồng thuận.
Tuy nhiên, cả hai loại thuốc này đã được các cơ quan FDA (ở USA)/TGA (ở Australia) chấp thuận cho dùng với bệnh mất trí Alzheimer. Điều quan trọng là cần chú ý đến các tác dụng phụ do AChEIs. Những tác dụng phụ này bao gồm:
khó chịu do rối loạn ở đường tiêu hóa như táo bón,
rối loạn hệ thống thần kinh trung ương nghiêm trọng hơn, như mất thăng bằng,
và những rối loạn có thể liên quan đến tình trạng rối nhịp tim làm tim đập chậm gây triệu chứng đáng ngại như ngất xỉu.
Mặt khác, không có bằng chứng để hỗ trợ cho việc sử dụng liều cao vitamin E, statins, NSAIDs, steroid sinh dục, hoặc bổ sung chế độ ăn uống trong việc làm chậm sự suy giảm nhận thức hoặc chức năng thể chất ở mức độ nhẹ đến trung bình mất trí nhớ.
Thêm vào việc trị liệu vừa nêu, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc, dưỡng trí viện cần theo dõi tình trạng của bệnh nhân mỗi 3 tháng.

Tiên lượng
Bệnh Alzheimer thuộc vào loại bệnh có xu hướng “tiến triển” bất lợi; hiện nay Y học chưa có thuốc chữa dứt và cũng chưa biết cách nào để làm chậm sự tiến triển bất lợi của bệnh này.
Các triệu chứng ở một số người trong các giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của căn bệnh này có thể được thuyên giảm bằng thuốc.
Tiến triển của bệnh Alzheimer thay đổi theo từng người; một số người có bệnh trong 5 năm, và người khác mang bệnh trong 20 năm.
Cuối cùng, lý do phổ biến nhất gây ra tử vong là nhiễm trùng.

Như vậy, sau khi được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer, người bệnh vẫn có thể còn sống khoảng từ 2 đến 20 năm. Cho nên, điều đáng quan tâm thêm là: Những năm của tuổi đời còn lại này là những năm người bệnh phải sống trong tình trạng ngày càng lệ thuộc vào người chung quanh, với những gánh nặng đáng kể về thể chất, tình cảm, và về kinh tế gia đình.

Phòng ngừa bệnh Alzheimer
Y học cho biết rằng: Có một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng phát triển bệnh Alzheimer.
Nhưng không ai có thể kiểm soát được các yếu tố như tuổi tác, giới tính, và bệnh sử trong gia đình. Tuy nhiên, cũng có những điều ai ai cũng có thể làm để giúp giảm nguy cơ cho chính mình.
Những điều đó lại chính là các trụ cột của một lối sống lành mạnh như: tập thể dục, theo giỏi trọng lượng, và ăn uống đúng cách; những điều này đã tỏ ra có khả năng giảm nguy cơ của bệnh Alzheimer.

Và sau đây là 5 bước để giảm nguy cơ bệnh Alzheimer.
Mặc dù hiện nay không có một cách chắc chắn nào để ngăn ngừa bệnh Alzheimer, nhưng y học cho thấy rằng: áp dụng [ 5 ] năm bước dưới đây có thể giảm nguy cơ bệnh này và tăng cường sức khỏe chung của Ông/Bà.
1. Duy trì một cân nặng thuận lợi cho sức khỏe.
Cân nặng thuận lợi cho sức khỏe là cân nặng tương hợp với Chỉ số cân nặng cơ thể (BMI) trong vòng 18.5 đến 25. Nhắm mục tiêu giữ Chỉ số cân nặng cơ thể (BMI) trong vòng thuận lợi cho sức khỏe, Ông/Bà cần cắt giảm số calo và tăng hoạt động thể chất. Muốn biết BMI của mình, Ông/Bà có thể lấy:
cân nặng tính bẳng kg của cơ thể mình đem nó chia cho
chiều cao (tính bằng meter) của mình nhân với chiều cao (tính bằng meter) của mình.
Tóm tắt bằng công thức: BMI = kg / (meter X meter)

2. Kiểm tra vòng eo co
Để đo kiểm tra chính xác vòng eo của mình, Ông/Bà nên sử dụng một thước dây để đo xung quanh phần hẹp nhất của eo của mình (thường là ở khoảng giữa rốn và xương sườn thấp nhất).
Một nhóm chuyên gia thuộc Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ khuyến cáo cần đo và giữ vòng eo không quá 35 inches (89 cm) cho phụ nữ và 40 inches (102 cm) cho nam giới.

3. Lưu ý về thức ăn
Các thực phẩm cần được chọn ưu tiên phải là:
thực phẩm tươi xanh đầy vitamin như rau và hoa quả;
ngũ cốc nguyên hạt;
cá, thịt nạc, đậu hũ, đậu và các cây họ đậu vốn là nguồn protein;
cộng với chất béo lành mạnh (margarine thay cho bơ và mỡ).

Ông/Bà nên cắt giảm lượng calo không cần thiết từ bánh kẹo, nước ngọt, ngũ cốc tinh chế như bánh mì trắng hay gạo trắng, chất béo không lành mạnh, thức ăn chiên xào, thức ăn vội (fast foods), và các thức ăn vặt.
Ông/Bà cũng cần chú ý đến số lượng của khẩu phần thực phẩm của mình để tự cắt giảm bớt đúng lúc.

4. Tập thể dục thường xuyên
Bước này, cộng với hoạt động thể chất hằng ngày, không những tốt cho cơ thể, mà còn giúp kiểm soát cân nặng, huyết áp, đường trong máu, và cholesterol. Theo thời gian, việc tập thể dục từ vừa đến mạnh mẽ (đi bộ, bơi lội, đạp xe, chèo thuyền) cũng có thể giúp cơ thể loại đi tổng số chất béo và chất béo tích tụ ở bụng. Ông/Bà hãy cố dành 2 giờ rưỡi đến 5giờ hàng tuần để đi bộ khá nhanh (4 mph); hoặc chạy bộ (6 mph) cho một nửa thời gian đó.

5. Chú ý đến các con số quan trọng đối với sức khỏe.
Ngoài việc xem trọng lượng và vòng eo của quý vị, Ông/Bà còn cần hỏi bác sĩ của mình để biết những con số về cholesterol, triglycerides, huyết áp, và lượng đường trong máu của mình có còn ở trong mức bình thường chăng. Biết được “số liệu” này rồi, Ông/Bà sẽ tập thể dục, cố giảm cân, và dùng thuốc (nếu cần) ngõ hầu giữ cho những con số này đúng với những mục tiêu ấn định bởi nhân viên y tế đang chăm sóc sức khỏe của Ông/Bà.
o!o

Test trong Dịch vụ y khoa

Test trong Dịch vụ y khoa
Nhằm phục vụ sức khỏe của mọi người, mọi giới, Y học, và Kỹ thuật Y khoa ngày nay đòi hỏi người thầy thuốc không những chỉ thăm khám trong phòng mạch hay cạnh giường bệnh mà còn phải dùng một số xét nghiệm bổ sung – gọi ngắn gọn là “test”.
Một số test thường được dùng khi phục vụ bà con mình sẽ được bàn đến sau đây, cùng với các lý do phải dùng, tiêu chuẩn cần dùng, và giá trị chung của các test khi được dùng.
Vì việc chuyển ngữ Anh-Việt chưa có sự đồng thuận trong lẫn ngoài nước, một số thuật ngữ sẽ được đính kèm để tiện cho người đọc.

Các test trong y khoa gồm 4 loại chính như sau:
Test Sinh Hóa (Pathology)
Test Vật lý-Chụp hình (Imaging)
Test Nội soi (Endoscopy)
Test Trực kiểm (Exploration) bằng phẫu thuật.

Bốn loại test này có một vài trò đáng kể trong việc chẩn đoán cùng theo rõi bệnh. Thật vậy, việc chẩn đoán cùng theo rõi bệnh cần 4 yếu tố quan trọng:
các triệu chứng chủ quan do người bệnh cho thầy thuốc biết,
bệnh sử của người bệnh và diễn tiến trước sau của bệnh,
các chỉ dấu trên người bệnh, và
các loại test vừa nêu trên, mà giới chuyên về y gọi là “work-up”.

Từ “work-up” này đã là một phần trong công thức để nhớ SHOW, tức là Subjective symptoms, History, Objective findings, Workup [ https://ahdictionary.com/word/search.html?q=workups ].

Workup với test tuy cần, nhưng quyết định nên hay không nên làm test cũng là vấn đề đầu tiên trước khi làm test.
Vấn đề kế tiếp là phải làm thế nào để tránh làm quá nhiều hoặc quá ít test.
Và sau khi đã có báo cáo kết quả của các test, cũng còn cần làm thế nào để tránh đánh giá quá cao hoặc quá thấp các kết quả các test. Việc đánh giá kết quả quá cao sẽ gây thêm lo âu cho người bệnh và thân nhân họ; trái lại, việc giải đoán quá thấp các kết quả của test có thề là nguyên nhân của sự lơ là và sơ sót về chẩn đoán, điều trị cùng theo dỏi bệnh tình.

Trong nghiệp vụ chẩn đoán, điều trị cùng theo dỏi bệnh tình, người cung cấp dịch vụ y tế cho bệnh nhân thường cân nhắc xem xét một số điểm như sau.
Trước tiên họ thường hỏi tại sao cần làm Test này hay Test nọ. Hỏi tại sao cần là vì việc làm Test, dù test đơn giản đến đâu, cũng gây ít nhiều phiền toái, ưu tư, tổn phí về thời gian, công sức, tài chánh cho người bệnh lẫn cho cộng đồng.

Cũng vì vậy, Test cần có những mục tiêu rõ ràng như:
1. để xác nhận hoặc phủ nhận một bệnh, và tìm phương hướng chữa trị bệnh;
2. để liên tục theo dõi một bệnh hoặc biến chuyển của bệnh khi điều trị;
3. để tiên lượng một bệnh;
4. để sàng lọc những người có bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh;
5. để đáp ứng yêu cầu của pháp y, bảo hiểm, và yêu cầu chính đáng của người bệnh;
6. để có thể làm cho người bệnh yên tâm hơn khi họ hiểu rõ bệnh tình và chuyển biến thuận lợi.

Không có mục tiêu rõ ràng như trên thì không thể biết Test gì sẽ làm, và Test đó có thực sự đạt mục tiêu một cách chính xác không.

Căn cứ vào mục tiêu khi làm Test, những người cần được làm Test thường gồm ba nhóm chính:
1. Những người có
có triệu chứng chủ quan,
có bệnh sử đáng kể,
có dấu hiệu khách quan khá đặc thù cho một bệnh.
Ví dụ:
người than đau thắt ngực cần được làm Tâm Điện Đồ (ECG);
người bị nôn mửa và “biệt kinh kỳ” cần test Thử thai.
2. Những người tuy
có triệu chứng chủ quan,
có bệnh sử đáng ngại,
nhưng dấu hiệu khách quan không đặc thù cho một bệnh nào.
Ví dụ: bệnh nhân thường cảm thấy mệt sẽ cần làm FBC (Đếm máu tổng quát);
3. Những người mặc dù
không triệu chứng chủ quan,
không bệnh sử đáng ngờ,
không dấu hiệu khách quan;
nhưng cần phát hiện bệnh trước khi bệnh biểu hiện.
Ví dụ thử Cholesterol, Glucose, Mammogram cho phụ nữ trên 50 tuổi.
Chọn đúng đối tượng sẽ giúp việc chẩn đoán, xử lý và tiên lượng bệnh hữu hiệu hơn và lại ít phí tổn hơn.

Chưa hết, thầy thuốc cũng như người bệnh cần lưu ý đến Tiêu chuẩn để chọn Test.
Ưu tiên số một, khi chọn test, là:
chọn test có giá trị thực tiễn tức là đáp ứng đúng mục đích của test,
chọn test dễ thực hiện được trong hoàn cảnh hiện tại hơn là chọn những test chỉ có giá trị lý thuyết và kinh điển,
chọn test nào ít làm mất thời gian, công sức, ít gây phí tổn tài chính cho bệnh nhân hoặc cộng đồng.
Một test vừa đắt tiền lại không đem lại thay đổi nào về chữa trị và tiên lượng bệnh, cần được dè dặt hơn khi chọn lựa.
Ví dụ:
Làm CT scan mọi cơ quan trong cơ thể là điều cần cân nhắc kỹ trước khi làm.
“Thử đủ thứ” theo yêu cầu của một số bệnh nhân sẽ là điều không thực tế và không thể thực hiện được.

Kế tiếp, Test còn cần:
chính xác để đo lường và xác nhận đúng cái muốn làm, và
được làm bởi những Cơ quan xét nghiệm có đạt kiểm tra kỹ thuật.
Tức là cần tránh chuyện “đau Nam thử Test Bắc”.
Ví dụ: Việc thử Cholesterol cho một cháu bé dưới 10 tuổi, khi thực hiện trong khi đi dạo chơi trong một Shopping Mall, hiển nhiên là một chuyện “phi thường” – bất thường vì không thích đáng cho đối tượng (cháu bé) và tình huống (đang rong chơi).

Test cũng
cần đúng chỉ định khi chọn.
cần là loại test thật an toàn khi làm
Ví dụ:
Loại test không xâm lấn (non-invasive test) – như Siêu âm – đáng được dành ưu tiên hơn X-quang cho một phụ nữ có thai.
Làm một test gọi là sinh thiết trên da dù với vết cắt rất nhỏ vẫn là làm một test có xâm lấn (invasive test) vào cơ thể người bệnh.
Một test rạch nhẹ da để tìm dị ứng cũng là một test có thể gây phản ứng đột ngột nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.

Sau cùng, một điều cuối đáng lưu ý khi chọn test là: test dù thuộc định tính hay định lượng đều có thể nhạy (Sensitive) nhưng lại kém chuyên (Specific).
Test quá nhạy dễ nhận lầm một người có bệnh trong lúc người ấy thật sự không mắc bệnh (“bắt lầm” = false positive = “dương giả” = không mà nói có).
Ví dụ:
Một cái Test thử thai quá nhạy có thể làm cho một phụ nữ đang mong con thêm mừng hụt (hoặc một người nữ đang sợ vướng thai lại thêm lo sợ lầm) vì tưởng mình có bầu trong lúc chưa thật sự có thai.

Ngược lại, một cái test quá chuyên có thể không nhận ra một người đang ở một giai đoạn đáng kể nào đó của bệnh, và lại cho rằng người ấy không mắc bệnh (“tha lỡ” = false negative = “âm giả” = có mà nói không).
Ví dụ:
Một cái test thử thai quá chuyên có thể làm cho một người nữ đang mong con thêm thất vọng lầm (hoặc một người nữ sợ vướng thai nay thêm mừng hụt) vì tưởng mình không có bầu trong lúc người này đã thật sư có thai – bởi vì test quá chuyên nên độ chuyên nhiều hơn độ nhạy.
Trên thực tế lâm sàng, để xác nhận (rule in) một bệnh, người thầy thuốc thường chọn một test có độ nhạy cao vì muốn “thà bắt lầm hơn tha lỡ”. Ngược lại, khi muốn phủ nhận (rule out – exclude) một bệnh, test có độ chuyên cao thường được thầy thuốc chọn hơn.
Như vậy, việc chọn test hoàn toàn tùy thuộc bệnh tình, hoàn cảnh, môi sinh, kiến thức, kỹ năng, và sự phán đoán của người thầy thuốc. Và, tất nhiên không thể test “đủ thứ” như một số bệnh nhân đòi hỏi.

Tóm lại cho dễ nhớ:
Các Test trong Y khoa rất CẦN; vì là một trong “tứ trụ” – bốn vế của công thức “SHOW”: Subjective symptoms, History, Objective findings, Workup.
Tuy Test cần nhưng chưa ĐỦ; vì test còn phải đạt các tiêu chuẩn “PASS” (Practical, Practicable, Accurate, Safe, Sensitive và Specitific).

Phó thường dân

Xuân Về Trên Xứ Lạnh

Xuân Về Trên Xứ Lạnh

Văn Đắc Nguyên

Đón gió mùa xuân về trên xứ lạnh
Xứ lạnh tình nồng, phải thế không em
Đêm nay giao thừa sao tuyết vẫn rơi
Cho anh nghe lòng xao xuyến đơn côi
Bao nhiêu mong chờ xuân sang ngày mới

Nhớ đến mùa xuân ngày xưa chúng mình
Nâng hoa mai vàng mơ ước xa xôi
Xưa quê hương mình xuân đến pháo vui
Đem bao ân tình tha thiết trao nhau
Mong xuân mang về nắng ấm yên vui

Anh mơ, một chiều mùa xuân nắng hồng
Trên quê hương mình yêu thương khắp chốn
Muôn hoa kết ngập đường vui
Bên nhau dập dìu trên lối
Anh mơ ước ngày quê hương thanh bình
Hạnh phúc nơi nơi

Đã mấy mùa xuân về trên xứ lạnh
Bao năm đong đầy thương nhớ chưa nguôi
Nơi anh bây giờ hoa tuyết đang rơi
Anh xin ơn đời một thoáng yên vui
Cho xuân mang về thương yêu đầy vơi.

0!0

Xuân Về Trên Đất Khách